• 1. Hoa đào – vị thuốc quý
    • (Vishipel) - Hoa đào Tết ngoài ý nghĩa tạo cho xuân thêm hương thêm sắc, còn thể hiện mong ước một năm mới sẽ mang tài lộc, sức khỏe và hạnh phúc đến cho mọi người, mọi nhà.

      Hoa đào Tết ngoài ý nghĩa tạo cho xuân thêm hương thêm sắc, còn thể hiện mong ước một năm mới sẽ mang tài lộc, sức khỏe và hạnh phúc đến cho mọi người, mọi nhà. Ngắm hoa đào trong không khí xuân mới, ta còn biết thêm ích lợi của nó đối với sức khỏe.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Theo Đông y, hoa đào tính bình, vị đắng, không độc. Lợi đại tiểu tiện, trục giun sán, tan sỏi thận, thông kinh huyết, hóa đàm, chữa điên loạn. Cách dùng: sắc uống hoặc tán bột 4 - 8g. Dùng ngoài tán bột rắc lên vết thương hoặc giã đắp.

      Chữa thủy thũng: hoa đào lượng vừa đủ, nghiền bột mỗi lần lấy 6g cho vào nước cháo loãng, uống lúc đói. Ngày 3 lần hoặc nấu cháo hoa đào ăn.

      Chữa táo bón: bột hoa đào 30g, bột mì 100g làm bánh ăn hoặc bột hoa đào 10g chia 2 lần hòa nước ấm uống lúc đói.

      Đau eo lưng: hoa đào 100g, gạo nếp 500g, hoa đào giã vụn, trộn gạo nếp cho nước nấu thành cơm khô để nguội rồi cho men rượu ủ thành cơm rượu dùng dần.

      Sỏi thận: hoa đào, hổ phách lượng bằng nhau. Nghiền hoa đào trộn đều với hổ phách mỗi lần 6g cho vào 1 tô lớn nước, nấu trong nửa giờ, lọc lấy nước uống. Ngày 2 lần.

      Liệt dương: hoa đào, hoa hồng, hoa tường vi, hoa mai, hoa hẹ, trầm hương mỗi thứ 30g, nhân hạt đào 240g, rượu gạo, rượu cồn mỗi thứ 1.250ml. Hòa trộn với nhau 7 vị trên cho vào túi lụa treo vào trong 1 hũ sành sứ bịt kín miệng hũ. Ngâm 1 tháng, mỗi lần uống 20ml ngày uống 2 lần vào 2 bữa ăn chính.

      Bế kinh: hoa đào 25g ngâm vào 250ml rượu trong 1 tuần. Mỗi lần uống 10ml hòa với nước ấm hoặc hoa đào 10g cho vào cơm rượu 50g trộn đều, chưng cách thủy cho nhừ hoa để bớt nóng, ăn cả cơm và hoa. Ngày 1 lần, liền 1 tuần.

      Lưu ý: Không dùng cho người có thai.

      (Nguồn ST)

  • 2. Quất - Cây cảnh đẹp, cây thuốc quý
    • (Vishipel) - Quất chẳng những là cây cảnh của mùa xuân, từ quả quất chín mọng, qua bàn tay khéo léo của con người được chế biến thành mứt quất, một món ăn của ngày Tết, nếu một lần được thưởng thức sẽ chẳng bao giờ quên bởi hương vị đặc trưng: ngọt, thơm, cay dịu... Quất còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh.

      Quả quất có mùi thơm, vị ngọt, chua và tinh dầu thơm cay của vỏ. Quả quất được dùng dưới dạng quả còn non hoặc đã chín.

      Theo Đông y, quả quất vị ngọt chua, tính ấm, vào các kinh phế, vị, can. Nó có công năng hóa đảm, trị ho, giải uất, tiêu thực, giải rượu. Vỏ có tác dụng mạnh hơn. Quất để càng lâu càng tốt. Hạt quất có tác dụng giảm ho, cầm máu, chống nôn, lá quất có nhiều tinh dầu, có tác dụng chữa cảm mạo phong hàn rất tốt.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Những bài thuốc chữa bệnh bằng quất

      Cảm mạo: Lá quất 30g, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, hòa đường vừa đủ, uống lúc nóng.

      Nôn mửa: Vỏ quất, gừng tươi, đất nung mỗi thứ 9g, sắc uống.

      Nghẹn: Vỏ quất 20g, sấy khô, tán thành bột, sắc uống nóng.

      Sa nang sưng đau: Rễ quất 15 - 16g, sắc uống.

      Ho nhiều đờm: Quất 5 quả, đường phèn vừa đủ, hấp cách thủy, ngày ăn 2 lần, liền trong 3 ngày.

      Ho gà trẻ em: Quất 10g, gừng tươi 6g, thiên trúc hoàng 6g, sắc uống mỗi ngày 1 lần.

      Ho do phế nhiệt: Dùng quả quất với củ cải ép lấy nước uống.

      An thần giảm ho: Quất 2 quả (bỏ vỏ, hạt, vách múi), bột ngó sen một ít, đường 100g, một ít hoa quế, nấu chè ăn.

      Chữa hậu sản, phù nề, vàng da: Quả quất non 50g, nghệ vàng 100g, nghệ đen 100g, hương phụ 100g, cặn nước tiểu 5g. Tất cả thái mỏng, phơi khô, tán bột mịn, trộn với mật ong làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 viên.

      Nước giải khát có tác dụng bổ, dễ tiêu: Quả quất chín 1kg rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim sạch châm sâu vào quả 5 - 6 lỗ rồi cho vào lọ rộng miệng cùng với đường kính 2kg; cứ một lớp quất lại một lớp đường. Đậy kín, để trong 7 ngày, được dịch quất đường (sirô quất) màu vàng mùi thơm. Khi dùng, lấy 1 - 2 thìa to sirô này pha với 150ml được đun sôi để nguội. Khuấy đều rồi uống.

      Chữa ho lâu ngày không khỏi: Hạt quất 10g, lá thạch xương bồ 10g, thêm 20g đường phèn hấp cơm, uống 2 - 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 5 - 10ml (1 thìa café).

      Chữa nôn ra máu: Hạt quất 20g, bóc bỏ vỏ lấy nhân, sao vàng, giã nhỏ, sắc lấy nước uống 2 lần/1 ngày. Cần chú ý tránh nhầm lẫn giữa hạt quất và hạt quýt (y học cổ truyền gọi là quất hạch).

      Ngoài ra, trong vỏ của quất, cam, quýt có chất tinh dầu giúp ngăn ngừa phát sinh ung thư gan, thực quản, đại tràng, da... Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, ăn quất cả vỏ sẽ cho vitamin C, chất xơ rất có lợi cho tiêu hóa và hạ được cholesterol, làm vững chắc thành mạch, chữa bệnh tăng huyết áp.

      (Nguồn ST)

  • 3. Giới thiệu các bài thuốc chữa chảy máu cam bằng thuốc nam
    • (Vishipel) - Kính thưa quý vị và bà con, chảy máu cam Đông y gọi là “Tỵ nục”- một trong những chứng “nục huyết”, bệnh phát sinh do huyết nhiệt vong hành nghĩa là huyết phận có nhiệt gây nên.

      Chy máu cam Đông y gọi là “Tỵ nục”- một trong những chứng “nục huyết”, bệnh phát sinh do huyết nhiệt vong hành nghĩa là huyết phận có nhiệt gây nên. Nguyên nhân chy máu cam gây bệnh thường không chỉ do tổn thương ở mũi mà còn do chức năng hoạt động các tạng phế, can, thận, tỳ, vị thiếu điều đạt mà sinh bệnh. Khi bị chảy máu cam thường dùng thuốc tại chỗ để chỉ huyết, có thể dùng một trong các phương sau:

      - Dùng một củ can khương gọt nhọn, đem nướng qua rồi nhét vào lỗ mũi.

      - Sơn chi tử (quả dành dành) hoặc tông lu bì (bẹ móc) đốt cháy tán bột nhỏ rồi rắc vào lỗ mũi.

      - Thanh tương tử (hạt mào gà trắng) sắc đặc nhỏ vào trong mũi sẽ cầm được huyết.

      Ngoài ra, có thể dùng một ít tỏi và hồng đơn đồng lượng giã nhừ trộn đều, nếu xuất huyết mũi trái thì đắp vào lòng bàn tay phải và ngược lại mũi phải thì đắp tay trái, huyết sẽ được cầm.

      Các thuốc đường uống: Trong mọi trường hợp khi xuất huyết đường mũi dùng:

      - Ngó sen tươi ninh với móng giò lợn, ăn vài lần.

      - Ngải diệp tươi 12g, trắc bá diệp 10g, sinh địa 12g sắc uống ngày 1 thang, 2 - 3 ngày liền hoặc lấy một nắm rau muống rửa sạch, giã nát thêm ít đường và pha chút nước sôi vào uống, ngày 1 lần.

      Nếu chay mau cam liên tục dùng một trong các bài sau:

      - Vương bất lưu hành 30g, sắc đặc, uống nóng, ngày 1 thang.

      - Đăng tâm 40g sao vàng tán bột, hoà với 4g chu sa, chia 2- 3 lần uống với nước cơm.

      - Rễ hẹ tươi 30g, rửa sạch sắc với 200ml nước đến còn phân nửa thêm đường đỏ 10g, uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần sẽ có tác dụng chỉ huyết.

      - Tam thất 6g (hoặc tông lư bì 6g), tóc người 6g (sao tồn tính), tán bột, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần với nước sắc trắc bách diệp, ngẫu tiết mỗi thứ 12g.

      - Nhân trung bạch (cặn nước tiểu) đem để lên hòn ngói mới bồi cho khô, nghiền nhỏ pha thêm một ít xạ hương, hoà rượu nóng cho uống.

      Trường hợp chảy máu cam do nhiệt dùng

      - Bài tứ sinh (bốn loại lá tươi) gồm tiên sinh địa hoàng 24g, ngải cứu tươi 6g, trắc bá diệp tươi 9g, hà diệp tươi (hoặc bạc hà tươi) 9g, sắc uống.

      - Hoặc trúc nhự 8g, sinh địa 8g, hoàng cầm 6g, bạch thược 6g, mạch môn đông 8g. Sắc uống ngày một thang.

      - Có thể dùng thiến thảo căn 10g, trắc bách diệp 5g, sinh địa 15g, ngũ vị tử 10g, hoàng cầm 5g, cam thảo 5g. Sắc uống.

      Trường hợp đổ máu cam do ảnh hưởng chức năng hoạt động của các tạng trong cơ thể

      - Do ăn nhiều thứ cay nóng làm cho vị nhiệt gây nên bệnh dùng thạch cao 24g, thục địa 24g, mạch môn đông 16g, tri mẫu 12g, ngưu tất 12g, lô căn 12g, mao căn 12g. Sắc uống.

      - Trường hợp âm hư hỏa vượng gây chảy máu cam dùng thục địa 24g, mạch môn đông 24g, tri mẫu 24g, ngưu tất 24g, huyền sâm 12g, a giao 12g, thiên môn đông 24g, ngẫu tiết 24g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần.

      - Nếu do can hỏa vượng bốc lên dùng bài: sinh địa 16g, đương quy 12g, hoàng cầm 8g, trắc bá diệp 8g, xích phục linh 10g, cam thảo 6g, xích thược 12g, hương phụ 10g, sơn chi 10g, hoàng liên 6g, cát cánh 10g, ngưu tất 12g. Sắc uống.

      - Nếu say sưa quá độ làm thương tổn đến phế mà nục huyết dùng bách thảo sương 20g, hòe hoa 80g, tán thành bột, mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần, chiêu với 60ml nước sắc bạch mao căn.

      - Trường hợp chảy máu cam do phế nhiệt dùng bạc hà 6g, hoàng kỳ 10g, sinh địa 16g, a giao 8g, mao căn 12g, mạch môn đông 12g, bồ hoàng 6g, bối mẫu 8g, tang bạch bì 10g, cát cánh 10g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 4. Gấc món ngon, thuốc quý
    • (Vishipel) - Gấc là cây rất quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Cơm quả gấc dùng nấu xôi, các bộ phận khác như hạt, rễ, lá, dây gấc đều là vị thuốc quý.

      Cơm quả gấc: vị ngọt tính bình. Tác dụng bổ tỳ vị, dưỡng khí huyết, ích can thận, sáng mắt... Trị chứng hư nhược, mắt yếu mắt mờ, phụ nữ có thai, trẻ em còi, chức năng gan yếu. Dùng dưới dạng quả chín nấu xôi ăn, ép lấy dầu gấc, quả non nấu canh, xào ăn. Đặc biệt, cơm cùi quả gấc chứa rất nhiều vitamin A, E - chất có vai trò trong phòng trị bệnh về tim mạch, sa sút trí não, mắt yếu, mắt mờ.

      Hạt gấc (mộc miết tử): vị ngọt, tính ấm, hơi có độc. Tác dụng thông huyết ứ, tiêu mụn nhọt, hạ ch kết, làm mau khỏi chỗ sưng đau. Ngâm với dấm bôi chủ trị quai bị, mụn hạch, anh lựu cổ có bướu, tràng nhạc hạch đàm kết, huyết tích khối rắn chắc sưng đau. Ngâm rượu, bôi trị chứng sang thương huyết ứ bầm tím sưng đau.

      Rễ gấc (mộc miết căn): vị đắng, tính mát. Tác dụng tiêu viêm, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống. Cách dùng: ngâm rượu hoặc sắc uống ngày 2 lần, mỗ i lầ n sắ c12-14g, chữa cơ khớp đau nhức.

      Lá gấc (mộc miết diệp): dùng tươi giã đắp ngoài chữa sưng đau, lá non làm rau, nấu canh hoặc xào ăn, tác dụng bổ mát, nhuận tràng.

      Sau đây là một số cách dùng gấc chữa bệnh:

      Chữa hoàng đản (người uống rượu nhiều quá sinh chứng hoàng đản (vàng da), tiểu vàng đậm mệt mỏi): hạt gấc 2-3 hạt mài với dấm gạo cho uống ngày 3lần/30ml nếu tiểu tiện thông lợi được rất hiệu nghiệm.

      Chữa chứng cước khí (hai chân sưng đau lâu ngày): nhân hạt gấc thái lát trộn cám gạo sao vàng ép bỏ dầu tán nhỏ 40g, bột quế 20g, mỗi lần dùng 8g pha với rượu trắng và nước, uống ngày vài lần cho ra mồ hôi.

      Chữa sán khí (dịch hoàn sưng đau): nhân hạt gấc 30g hoặc hơn mài với dấm thanh bôi đắp ngày vài lần.

      Chữa bệnh trĩ (bị trĩ sưng đau quá mức): hạt gấc 2-3 hạt giã nát hòa với nước xông rử a và lấy nước đặc bôi lên ngày vài lần.

      Chữa chứng loa lịch (ở cổ phát nổi nhiều hạch sưng đau): nhân hạt gấc 2 cái ép bỏ dầu hòa với lòng trắng trứng gà chưng thật chín ăn sau bữa cơm, dùng 15 ngày một liệu trình rất hay.

      Chữa chứng đan độc anh lựu (ở cổ nổi hạch sưng đau): nhân hạt gấc 7-9 cái tán nhuyễn hòa với dấm gạo bôi đắp nhiều lần.

      Chữa quai bị: nhân hạt gấc 40g, xích tiểu đậu, đại hoàng 40g. Các vị tán nhuyễn hòa dầu mè bôi ngày vài lần.

      Chữa răng lợi sưng đau chảy máu (răng lợi thường viêm sưng đau chảy máu): hạt gấc giã nhỏ hòa nước ngậm khoảng 30 phút rồi nhổ đi.

      Lưu ý: nhân hạt gấc có độc dùng chủ yếu bôi đắp ngoài, không dùng cho người hư nhược, không có huyết ứ. Người không có kinh nghiệm không dùng. Nếu uống dùng khoảng 2-4g (1-2 nhân).

      (Nguồn ST)

  • 5. Lợi ích sức khỏe của cây đinh hương
    • (Vishipel) - Đinh hương là loại thảo mộc được sử dụng làm gia vị cho món ăn, trà… Đinh hương giàu chất chống oxy hóa, protein, chất xơ, canxi, sắt, kẽm, kali, niacin, folate, vitamin B, vitamin C, vitamin E, vitamin K và vitamin D, nên có nhiều lợi ích sức khỏe. Dưới đây là những công dụng chữa bệnh mà có thể bạn chưa biết.

      Giảm tiểu đường

      Đinh hương tốt cho những người có hàm lượng đường huyết cao vì nó có chức năng giống như insulin trong cơ thể. Nó giúp chuyển lượng đường dư thừa từ máu vào trong các tế bào cơ thể, vì vậy bình thường hóa được lượng đường và cũng điều trị được bệnh.

      Tốt cho xương và khớp

      Đinh hương giàu các chất như eugenol và flavonoid làm tăng mật độ xương và khoáng chất trong xương, do đó giúp chúng ta khỏe mạnh hơn. Những người có xương yếu, đặc biệt là phụ nữ, người già, nên dùng đinh hương thường xuyên.

      Tăng cường miễn dịch

      Ăn đinh hương bảo vệ bạn chống được phần lớn các bệnh nhiễm trùng vì nó giúp tăng cường hệ miễn dịch. Nó làm tăng số lượng tế bào bạch cầu, vì vậy giúp cơ thể chống nhiễm trùng.

      Giảm đau và viêm

      Đinh hương có thuộc tính giảm đau và chống viêm. Hợp chất eugenol có trong đinh hương có thể giảm đau và viêm. Vì vậy đinh hương có thể thay thế cho các thuốc giảm đau và chống viêm.

      Chữa đau nhức răng

      Nếu bạn bị đau răng do sâu răng, hãy đặt một nhánh đinh hương lên chiếc răng bị đau một thời gian để giảm đau. Đinh hương có thể giảm đau và làm cho các dây thần kinh bị tê liệt do có thuộc tính gây tê cục bộ.

      Phòng ngừa ung thư

      Đinh hương có thể tiêu diệt tế bào ung thư trong cơ thể và một nghiên cứu chỉ ra rằng đinh hương có thể có lợi trong việc kiểm soát ung thư phổi, ung thư vú, ung thư buồng trứng và các loại ung thư khác ở giai đoạn đầu. Vì vậy hãy ăn nhiều đinh hương để bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh ung thư.

      Chữa đau đầu

      Đinh hương có thể được dùng để giảm đau đầu. Trộn bột đinh hương và muối mỏ trong 1 cốc sữa. Uống loại hỗn hợp này để giảm đau đầu.

      (Nguồn ST)

  • 6. Bài thuốc hay trị viêm xoang
    • (Vishipel) - Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh mạn tính phổ biến và rất dễ phát sinh bệnh, đặc biệt là vào mùa thu đông, thời tiết lạnh và khô hanh, môi trường ô nhiễm…

      Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh mạn tính phổ biến và rất dễ phát sinh bệnh, đặc biệt là vào mùa thu đông, thời tiết lạnh và khô hanh, môi trường ô nhiễm… Theo y học cổ truyền, nguyên nhân là do cơ địa dị ứng nhiễm khuẩn (huyết nhiệt), dị ứng do lạnh (phế khí hư, vệ khí hư) gặp phải các tác nhân phong hàn, phong nhiệt, nhiệt độc mà gây bệnh.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Viêm xoang được chia làm hai loại: viêm xoang dị ứng và viêm xoang nhiễm khuẩn. Sau đây là một số bài thuốc tùy thể bệnh chữa trị.

      Viêm xoang dị ứng: Nguyên nhân thường do phong hàn kết hợp với phế khí hư và vệ khí hư. Phép chữa là bổ khí cố biểu, khu phong tán hàn. Dùng một trong các bài thuốc sau:

      Bài 1: Bạch truật 12g, quế chi 8g, tang bạch bì 10g, bạch chỉ 12g, cam thảo 4g, gừng 4g, hoài sơn 16g, ké đầu ngựa 16g, xuyên khung 16g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Bài 2: Tiểu thanh long thang gia giảm: ma hoàng 6g, quế 6g, bạch thược 12g, gừng khô 4g, cam thảo 4g, tế tân 4g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 4g, đẳng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, khương hoạt 8g, ké đầu ngựa 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Bài 3: Ngọc bình phong tán và quế chi thang gia giảm: hoàng kỳ 16g, phòng phong 6g, bạch truật 8g, quế chi 8g, bạch thược 12g, gừng 2g, đại táo 6g. Nếu bệnh mới mắc chảy nước mũi nhiều, thêm ma hoàng 4g, tế tân 6g. Nếu mệt mỏi, đoản hơi, thêm đẳng sâm 16g, kha tử 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Viêm xoang do nhiễm khuẩn: Nguyên nhân thường do nhiệt độc. Có hai thể cấp và mạn tính:

      Thể cấp tính: Bệnh mới phát, người bệnh ngạt mũi, chảy nước mũi vàng có mủ, xoang hàm và xoang trán đau, viêm mũi, người sợ lạnh, sốt, nhức đầu. Phép chữa là thanh phế nhiệt giải độc.

      Bài 1: Kim ngân hoa 16g, hy thiêm thảo 16g, ké đầu ngựa 16g, mạch môn 12g, chi tử 8g, dấp cá 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Bài 2: Tân di thanh phế ẩm gia giảm: tân di 12g, hoàng cầm 12g, sơn chi 12g, thạch cao 40g, tri mẫu 12g, kim ngân hoa 16g, mạch môn 12g, dấp cá 20g. Nếu sợ lạnh, sốt, nhức đầu bỏ hoàng cầm, mạch môn; thêm ngưu bàng 12g, bạc hà 12g.

      Thể mạn tính: Bệnh kéo dài, xoang hàm và trán ấn đau, thường chảy nước mũi có mủ, mùi hôi, mất khứu giác, thường xuyên nhức đầu. Phép chữa là dưỡng âm nhuận táo, thanh nhiệt giải độc. Bài thuốc: sinh địa 16g, huyền sâm 12g, đan bì 12g, mạch môn 12g, kim ngân 16g, ké đầu ngựa 16g, tân di 8g, hoàng cầm 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

      (Nguồn ST)

  • 7. Chữa bệnh bằng hoa chuối
    • (Vishipel) - Theo dược học cổ truyền, hoa chuối vị ngọt, tính lạnh, có công dụng hóa đàm nhuyễn kiên, bình can tiêu ứ, thông kinh hoạt lạc, thường được dung để chữa các chứng bệnh như ngực bụng đầy chướng.

      Theo dược học cổ truyền, hoa chuối vị ngọt, tính lạnh, có công dụng hóa đàm nhuyễn kiên, bình can tiêu ứ, thông kinh hoạt lạc, thường được dung để chữa các chứng bệnh như ngực bụng đầy chướng, hay ợ chua, nôn nhiều đờm rãi, mắt hoa đầu choáng, đau tức vùng tim, rối loạn kinh guyệt, chỉ khát nhuận phế, thông huyết mạch, lợi xương tủy…

      Hoa chuối là một cụm hoa mang bởi một thân thật mọc xuyên qua thân giả, vượt qua tán lá rồi buông thõng. Cụm hoa gồm những lá bắc màu đỏ tía xếp úp lên nhau thành hình nón dài, ở kẽ mỗi lá bắc có khoảng 20 hoa xếp thành hai hang, hoa ở gốc là hoa cái, ở giữa là hoa lưỡng tính, ở ngọn là hoa đực. Bao hoa gồm ba lá dài và hai cánh hoa dính liền, ở đầu có 5 răng. Cánh hoa thứ ba tạo thành cánh môi mầu hồng nhạt, nhị 5, bầu hạ, 3 ô.

      Một số  cách dùng hoa chuối chữa bệnh, cụ thể như sau:

      Hỗ trợ điều trị chứng nhịp tim nhanh: Hoa chuối 30g, tim lợn 1 quả. Đem hoa chuối sắc trong 30 phút lấy nước bỏ cái rồi cho tim lợn vào nấu chín, ăn trong ngày. 10 ngày là một liệu trình.

      Ăn không tiêu, đầy chướng bụng, nôn nấc: Hoa chuối 10g đem sắc với một lượng nước vừa phải trong khoảng 10 phút, sau đó lọc lấy nước, để nguội rồi hòa với 1 chén rượu nhỏ uống. Hoặc hoa chuối lượng vừa đủ sấy khô, tán thành bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 6g với nước ấm. Dùng 3 - 5 ngày.

      Đau dạ dày: Hoa chuối, hoa trà ký sinh trên cây tiêu mỗi thứ 15g, sắc với một lượng nước vừa đủ trong khoảng 10 phút rồi lọc lấy nước uống. Hoặc hoa chuối 10g, gạo tẻ 30g, hai thứ đem nấu thành cháo ăn trong ngày. 10 ngày là một liệu trình.

      Bụng chướng đau, ợ chua: Hoa chuối 6g sắc uống. Dùng liên tục trong 3 ngày.

      Nấc: Hoa chuối 60g sấy khô, tán thành bột, uống mỗi lần 6g với nước ấm, mỗi ngày 3 lần.

      Kiết lỵ: Hoa chuối 30g rửa sạch, nghiền nát rồi hãm với nước sôi uống, có thể pha thêm một chút mật ong.

      Nhọt độc, ung thũng: Hoa chuối lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát đắp lên tổn thương đến khi khỏi thì dừng.

      Bế kinh: Hoa chuối 15g, hoa quế 5g, hoa hồng 10g, tất cả đem sấy khô, tán thành bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 với rượu ngâm hoa cúc (hoàng tửu), nếu không có rượu hoa cúc thì có thể thay bằng rượu trắng.

      (Nguồn ST)

  • 8. Cấp cứu tổn thương do sức ép
    • (Vishipel) - Cấp cứu tổn thương do sức ép

      Sức ép ở đầu cũng tương tự như chấn động não. Có thể liệt chi do tổn thương tủy sống nạn nhân có thể bị bất tỉnh hoặc hôn mê hoàn toàn trong một số trường hợp có thể thấy nạn nhân ngồi ở đâu đó, không cử động được và cũng không biết việc gì xảy ra, có khi bề ngoài thấy một tổn thương nhưng nạn nhân thấy không còn có một chút sức lực nào và không cửa động được. Nạn nhân có thể tạm thời ngớ ngẩn, không hiểu xử trí thế nào.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Ví dụ: khi tàu bị chìm, mặc dù có thể thoát ra rất dễ dàng nhưng họ không tự làm, thậm chí có thể chết đuối khi ngâm mình vào 20cm dầu hoặc nước.

      Nếu họ bất tỉnh xử trí như các trường hợp bất tỉnh khác đã nêu ở phần trước.

      Nếu nạn nhân bị ngớ ngẩn nên đưa họ ra nơi an toàn, nói cho biết thật kỹ lưỡng những việc họ cần làm, nên coi họ như một đứa trẻ tuyệt đối không để họ tự xử lý, nguy hiểm cho tính mạng.

      2. Chấn thương bụng

      Tổn thương ở bụng thường là chảy máu các phủ tạng do sóng của vụ nổ gây ra, thường gặp khi nổ dưới nước đối với người làm việc dưới nước hoặc là các va đập mạnh vào vùng bụng. Sốc và đau trong ổ bụng là những dấu hiệu chủ yếu và có thể xảy ra một thời gian sau nổ hoặc chấn thương.

      Sức ép làm tổn thương các mao mạch phổi làm chảy máu trong phổi làm chảy máu trong phổi, nạn nhân sẽ bị sốc, khó thở, cảm thấy ngực bị bó chặ, đau, mặt xanh và có giọt máu ở miệng. Để nạn nhân ra nơi thoáng khí nếu có thể và để ở tư thế nửa ngồi. Nới các quần áo quá chật, giữ ấm, khuyến khích họ ho và khạc hết đờm dãi, không nên sử dụng Morphin, nếu suy thở có thể hỗ trợ bằng thổi mồm – mồm.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 9. Hướng dẫn sơ cứu trật khớp
    • (Vishipel) - Hướng dẫn sơ cứu trật khớp

      Phát hiện: Trật khớp là khi một xương di chuyển ra khỏi vị trí bình thường của nó ở khớp. Có thể chẩn đoán khi có một chấn thương ở gần khớp và khớp không còn hoạt động bình thường được nữa. Động tác bị giới hạn, đau có khi rất đau khi cố cử động khớp, vùng khớp bị biến dạng do khớp trật ra ngoài và do tụ máu và có khi vừa trật khớp vừa gãy xương.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Xử trí: Trật khớp có thể kín hoặc hở. Nếu có một vết thương gần nơi trật khớp, phải băng vết thương để cầm máu và đề phòng nhiễm trùng. Có thể có gãy xương vì vậy đừng  nắn lại khớp bị trật sẽ gây nên những hậu quả tai hại. Cần cố định và kỹ thuật cố định tương tự như trường hợp gãy xương ở khu vực này. Chú ý đến tình trạng tuần hoàn của chi ở phía dưới ổ trật khớp. Trường hợp không sờ thấy mạch ở cổ tay hay mắt cá, thử di động chi phía dưới chỗ trật khớp một cách hết sức nhẹ nhàng cho tới khi thấy mạch đập trở lại và cố định chi ở tư thế đó. Quan sát màu da ở ngón tay, ngón chân nếu từ trắng bệch sang xanh tím chuyển sang hồng hào là được.

      Nên để nạn nhân ở tứ thế thoải mái khi vận chuyển, nếu trật khớp chi trên thì để ngồi, đối với trật khớp các chi khác thì để nằm ngửa.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 10. Nguyên tắc xử trí cấp cứu ban đầu cho thuyền viên bị nạn trên biển
    • (Vishipel) - Nguyên tắc xử trí cấp cứu ban đầu cho thuyền viên bị nạn trên biển

      Mục tiêu của xử trí ban đầu là:

      - Trong một số trường hợp như chảy máu nặng hay ngạt thở, cần phải xử trí ngay nếu như nạn nhân còn sống, từng giây phút hết sức quý báu, quyết định sự sống chết của nạn nhân.

      - Có những tai nạn có thể cấp cứu sau một vài phút để có thể triệu tập những người chuyên trách về sơ cứu cũng như phương tiện cần thiết.

      - Tất cả các thuyền viên đều phải được học về sơ cứu, có những hiểu biết tối thiểu, sẵn sàng thực hiện các biện pháp khẩn cấp và quyết định trường hợp nào có thể trì hoãn đợi người thông thạo về sơ cấp cứu đến. Người nào không được huấn luyện phải biết những giới hạn của mình. Các quy trình và cứu trợ vượt khả năng của người cứu trợ không được mang ra làm thử vì sẽ gây tai nhiều hơn là có lợi.

      Các ưu tiên khi cấp cứu cho nạn nhân:

      - Nghĩ ngay tới sự an toàn của chính mình, không thể tự biến mình thành một nạn nhân nữa;

      - Nếu cần thì chuyển người bị nạn khỏi nơi và tác nhân gây tai nạn hoặc rời tác nhân gay tai nạn ra xa nạn nhân;

      - Nếu chỉ có một nạn nhân bị bất tỉnh hoặc đang chảy máu thì sơ cứu ngay lập tức cho nạn nhân này, sau đó gọi người khác đến hỗ trợ;

      - Trường hợp có nhiều nạn nhân bị bất tỉnh và chảy máu thì cho gọi người tới hỗ trợ, sau đó sơ cứu khẩn cấp cho nạn nhân nào nặng nhất theo thứ tự ưu tiên như sau:

      - Nếu nạn nhân ở một chỗ chật và kín không nên vào đây trừ khi bạn là một nhân viên cứu trợ huấn luyện đầy đủ trong một đội cứu trợ hoạt động dưới sự chỉ đạo chặt chẽ. Cho gọi người tới hỗ trợ và báo cáo với thuyền trưởng;

      - Phải giả định là không khí ở nơi xảy ra tai nạn là không khí ở nơi xảy ra  tai nạn là độc hại. Đội cứu trợ không được vào nơi này trừ khi đã mang máy thở và cũng phải đem máy thở cho nạn nhân càng sớm càng tốt, nạn nhân phải được mau chóng chuyển ra vùng an toàn gần đó từ khi thương tổn đòi hỏi phải có một vài sự chăm sóc thiết yếu trước khi được di chuyển.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 11. Hướng dẫn hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim cho người bị nạn trên tàu
    • (Vishipel) - Hướng dẫn hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim cho người bị nạn trên tàu

      Đây là sự hỗ trợ cấp thời để giúp nạn nhân không bị suy hô hấp và suy tuần hoàn.

      Trong không khí có lồng độ oxy khoảng 21% rất cần thiết cho sự sống của mọi tế bào:

      - Não bắt đầu chết nếu bị thiếu oxy khoảng 4 phút. Oxy được đưa tới não bởi hai động tác: hô hấp để đưa oxy vào cơ thể và tuần hoàn để đưa máu đã được làm giàu oxy tới não;

      -  Động tác cẩn trở đến sự sống của não là: Cản trở đường hô hấp; Ngừng thở; Ngừng tim.

      Các động tác để duy trì sự sống cho nạn nhân không cần có một dụng cụ gì đặc biệt và phải thực hiện thật sớm cốt giữ cho nạn nhân còn sống và chuyển tới một cơ sở điều trị có các trang thiết bị cần thiết, máy móc chẩn đoán, hỗ trợ, thuốc, dịch chuyền…

      Ảnh minh họa (nguồn Internet)

      Thực hiện các bước:

      1. Giải phóng đường thở:

      - Làm cho đường thở thông suốt là việc cực kỳ quan trong trong hô hấp nhân tạo.

      - Để nạn nhân nằm ngửa trên mắt cúng, đặt một tay vào dưới cổ, giữ cổ ngửa hản ra phía sau, còn tay kia đè và đẩy mạnh lên trán họ, động tác này sẽ làm cổ dãn ra và làm cho đáy lưỡi đẩy ra xa khỏi cổ họng. Đầu phải giữ ở tư thế này trong suốt thời gian hô hấp nhận tạo và bóp tim.

      2. Hô hấp hỗ trợ:

      - Khi cổ của nạn nhân ngửa ra hẳn phía sau mà nạn nhân không tự thở được phải hô hấp nhân tạo kiểu mồm mồm hoặ mồm mũi. Nhung bao giờ cũng phải giữ cho đường thở thông suốt:

      + Thở mồm mồm:

      + Thở mồm mũi:

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 12. Cách sơ cứu người bị đột quỵ
    • (Vishipel) - Để mang lại cơ hội sống cũng như giảm thiểu di chứng cho người bị đột quỵ - tai biến mạch máu não, ngoài việc đưa tới đúng chuyên khoa Thần kinh để cấp cứu, việc phát hiện sớm và xử trí nhanh cũng rất quan trọng.

      Bộ não người có khoảng 14 tỷ nơ ron thần kinh. Sau khi hoàn thiện, các tế bào thần kinh gần như không được sinh ra, hoặc sinh ra rất ít, mà chỉ có già hoá và mất đi. Mỗi lần đột quỵ sẽ làm chết khoảng 1,2 tỷ nơ ron, mỗi giờ đột quỵ mất 120 triệu, mỗi giây đột quỵ mất 32.000 nơ ron. Vì vậy, cấp cứu càng sớm thì càng giảm được lượng nơ ron thần kinh bị chết, tăng cơ hội cứu sống và giảm nhẹ di chứng cho người bệnh.

      Phát hiện ra đột quỵ

      Bất kể ai cũng có thể phát hiện ra tín hiệu cảnh báo đột quỵ não của bệnh nhân chỉ trong vòng 1 vài phút thông qua 1 hay nhiều triệu chứng sau:

      Đột ngột tê bì hoặc yếu nửa người, méo miệng

      Đột ngột u ám, lẫn lộn, nói những câu vô nghĩa

      Đột ngột mất thị lực một bên hoặc cả hai bên mắt

      Đột ngột đi lại khó khăn, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc phối hợp vận động

      Đột ngột đau đầu dữ dội mà không rõ nguyên nhân

      Ngay lập tức, hãy kiểm tra người nghi ngờ bệnh theo quy tắc FAST, tức Mặt – Tay - Nói - Nhanh sau:

      Mặt (đột ngột thấy liệt nửa mặt): Hãy yêu cầu người đó cười xem mặt có bị lệch về một bên không?

      Tay (đột ngột thấy yếu hoặc liệt một bên tay hoặc chân): Hãy yêu cầu người đó giơ hai tay lên và giữ nguyên trong một phút, xem có bên tay nào bị yếu, liệt sẽ bị rơi hoặc hạ thấp xuống không?

      Nói (đột ngột thấy nói khó hoặc không hiểu lời nói của người khác): Hãu yêu cầu người đó nói một câu đơn giản, chẳng hạn như “hôm nay trời đẹp”, xem người đó có thể nói một cách rõ ràng và lưu loát không?

      Nhanh: Hãy hành động ngay!

      Các bước sơ cứu đúng cách

      Khi thấy ai đó có một trong các triệu chứng ở trên, hãy khẩn trương bắt đầu cứu chữa:

      Đỡ người bệnh để không bị té ngã chấn thương, để người bệnh nằm xuống chỗ thoáng, nghiêng qua một bên nếu nôn ói, móc hết đàm nhớt cho bệnh nhân dễ thở. Gọi xe đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất. Nếu bệnh viện gần nhà có đủ điều kiện chữa trị thì không nên chuyển viện đi xa, trừ khi bác sĩ có chỉ định, vì càng di chuyển xa càng có thể làm bệnh nặng hơn. Không tự ý cho uống hoặc nhỏ thuốc hạ huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào khác. Không để nằm chờ xem có khỏe lại không.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 13. Cách xử trí các trường hợp gãy xương trên biển
    • Vỡ xương chậu:

      Thường do ngã cao hay bị một lực nào tác động vào vùng khung chậu. Người bị thương có thể kêu đau ở hông, ở khung khớp háng hay ở mông. Thử ấn nhẹ vào bờ trên hai bên xương hông xuống dưới và vào trong, nếu xương chậu bị gãy sẽ làm cho đau đớn.

      Nếu nghi là gãy xương chậu nên khuyên bệnh nhân đái để lấy nước tiểu xem có máu không.

      Nếu bàng quang và niệu đạo bị tổn thương, nước tiểu có thể thấm vào tổ chức, gãy xương chậu có thể gây chảy máu nặng đe dọa đến tính mạng, phải theo dõi cẩn thận và liên tục.

      Nếu bệnh nhân đau nhiều nên sơ cứu như đã tả trong mục gãy cột sống trước khi đặt nạn nhân lên cáng hoặc phản gỗ cứng. Để nạn nhân nằm ở tư thế nào thoải mái đối với họ. Nằm ngửa, nghiêng hoặc nằm sấp, bao giờ cũng phải lưu ý đến chảy máu trong. Nạn nhân có thể bị sốc nên phải phòng và chữa sốc.

      Khi vận chuyển nạn nhân nhất thiết phải để trên ván cứng, để một cái đệm vào giữa hai bắp đùi, hai đầu gối và mắt cá chân buộc vào nhau, cố định.

      Gãy xương đùi:

      Gãy xương đùi là một tổn thương lớn có thể làm mất nhiều máu. Nếu kết hợp với các gãy xương hay tổn thương khác có thể cần thiết phải truyền máu hay các dịch thay thế để chống sốc. Gãy xương đùi thường rất đau, chân có thể ngắn và đổ ra phía ngoài (so với chân lành).

      Trước hết chèn vào giữa bắp đùi, đầu gối, cẳng chân và mắt cá một mền chăn hay vải mềm, sau đó đưa chân lành giáp vào chân bị thương và bó lại với nhau. Cần làm hết sức nhẹ nhàng sau đó đặt nẹp cố định, một nẹp đúng cách phải gồm hai thanh, một thanh đặt từ nách tới cẳng chân, phải dùng nhiều dây buộc ở nhiều đoạn sau đó buốc hai chân lại với nhau, phải đặt lên cáng hoặc tấm ván dài khi đưa về giường hay bệnh xá. Cho thuốc giảm đau.

      Vỡ xương bánh chè

      Gãy xương bánh chè thường do ngã hoặc bị một vật cứng đập trực tiếp vào đầu gối. Ngoài những biểu hiện thông thường của một gãy xương có thể sờ thấy một rãnh ở bánh chè. Không thể nâng được cẳng chân lên và nếu được thì chân sẽ bị kéo lê.

      Phải kéo chân thẳng ra một cách nhẹ nhàng, cẩn thận. Nếu có nẹp hơi nên đặt cả đùi với các loại nẹp khác độn kỹ dưới khoeo chân và trên gót rồi dùng các băng hoặc dây buộc lại.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 14. Hướng dẫn cấp cứu các trường hợp chảy máu nặng (Phần 2)
    • - Phương pháp nâng cao chi: Khi vết thương gây chảy máu nặng ở cuối chi, song song với việc bắng ép nên đặt cao chi đó lên, để làm giảm áp lực của máu đến khu vực tổn thương, như vậy sẽ giảm lượng máu bị mất.

      - Phương pháp ấn vào các điểm gốc động mạch: Khi đã ép và nâng cao chi lên mà vẫn không làm giảm chảy máu, ta tiến hành ấn vào điểm gốc động mạch cung cấp máu cho từng vùng đó, động tác này làm giảm tuần hoàn máu đến bộ phận bị thương tương ứng nên chỉ sử dụng khi thật cần thiết và cho đến khi tìm được phương pháp khác cầm được máu tốt hơn. Có rất nhiều điểm có thể dùng ngón tay ấn vào để làm cho máu ngừng chảy nhưng tốt  nhất là ấn vào động mạch cánh tay trong trường hợp chảy máu nặng ở chi trên và ấn vào động mạch đùi ở bẹn trong trường hợp chảy máu nặng ở chi dưới.

      - Phương pháp đặt ga rô:

      + Chỉ định đặt ga rô: trong trượng hợp tổn thương do chủy máu nạng ở các chi mới có thể đặt ga rô. Chỉ nên đặt ga rô khi đã làm tất cả cac phương pháp cầm máu theo hướng dẫn trên đây mà vẫn không làm dừng chảy máu. Ga rô sẽ làm gián đoạn hẳn tuần hoàn xuống khu vực phái dưới chỗ ga rô, do đó tổ chức phía dưới sẽ thiếu máu và oxy, và nếu bị thiếu máu lâu có thể làm hủy hoại phần chi phía dưới và có thể phải cắt cụt chi.

      + Cách làm ga rô: Có thể làm ga rô bằng một miếng vải rộng, một băng tam giác, quần áo hoặc một mảnh vải xé ra, quấn vòng quanh đoạn chi phái trên chỗ chảy máu khoảng 2-3 cm, buộc 2 đầu dây vải lại có chừa một khoảng rộng đủ để luồn một đầu que gỗ vào và xoắn lại cho chặt. Sau đó cố định đầu que gỗ (tre) còn lại phần chi phía trên. Ghi giờ đặt ga rô lên da hoặc một mảnh bìa đeo vào ngực khi gửi nạn nhân vào bệnh viện. Nên dùng ga rô to bản, nếu ga rô hẹp bản và lại buộc thật chặt sẽ làm tổng thương các cơ, thần kinh và mạch máu, nhưng nếu lỏng qua thì máu vẫn chảy. Không nên dùng dây cao su hoặc dây chun làm ga rô, vì khi nới ga rô sẽ rất nguy hiểm.Săn sóc phần chi bị ga rô cho nạn nhân: Phải luôn luôn theo dõi phần chi phía dưới chỗ ga rô, nếu thấy có dấu hiệu phần chi đó bị tím tái, sưng nề, tê bì và mất cảm giác thì phải nới ga rô cho nạn nhân theo cách sau:

      + Phải nới vòng xoắn của ga rô một cách từ từ cho đến khi thấy máu thấm qua ga rô đến vùng chi dưới làm cho vùng chi đó hồng trở lại tiếp tục xoắn ga rô vào. Chú ý trong trường hợp có nhiều nạn nhân cùng phải đặt ga rô thì theo dõi thời gian làm ga rô cứ 15 phút nới ga rô đồng loạt cho nạn nhân một lần cho đến khi chuyển được nạn nhân về đến trung tâm cấp cứu ở trên bờ.

      + Động tác nới ga rô tùng thời gian vẫn có thể làm cho mất máu và nạn nhân có thể bị sốc. Cũng có trường hợp đặt ga rô xong để quên không theo dõi, vì vậy mỗi khi đặt ga rô xong phải lập tức báo cáo cho trung tâm cấp cứu.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 15. Hướng dẫn hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim cho người bị nạn trên tàu
    • (Vishipel) - Hướng dẫn hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim cho người bị nạn trên tàu

      Đây là sự hỗ trợ cấp thời để giúp nạn nhân không bị suy hô hấp và suy tuần hoàn.

      Trong không khí có lồng độ oxy khoảng 21% rất cần thiết cho sự sống của mọi tế bào:

      - Não bắt đầu chết nếu bị thiếu oxy khoảng 4 phút. Oxy được đưa tới não bởi hai động tác: hô hấp để đưa oxy vào cơ thể và tuần hoàn để đưa máu đã được làm giàu oxy tới não;

      -  Động tác cẩn trở đến sự sống của não là: Cản trở đường hô hấp; Ngừng thở; Ngừng tim.

      Các động tác để duy trì sự sống cho nạn nhân không cần có một dụng cụ gì đặc biệt và phải thực hiện thật sớm cốt giữ cho nạn nhân còn sống và chuyển tới một cơ sở điều trị có các trang thiết bị cần thiết, máy móc chẩn đoán, hỗ trợ, thuốc, dịch chuyền…

      I. Thực hiện các bước:

      1. Giải phóng đường thở:

      - Làm cho đường thở thông suốt là việc cực kỳ quan trong trong hô hấp nhân tạo.

      - Để nạn nhân nằm ngửa trên mắt cúng, đặt một tay vào dưới cổ, giữ cổ ngửa hản ra phía sau, còn tay kia đè và đẩy mạnh lên trán họ, động tác này sẽ làm cổ dãn ra và làm cho đáy lưỡi đẩy ra xa khỏi cổ họng. Đầu phải giữ ở tư thế này trong suốt thời gian hô hấp nhận tạo và bóp tim.

      • Nếu thấy có vật gì cản trở hô hấp trong mồm phải dùng ngón tay móc ra. Khi đường thở đã mở nạn nhân có thể thở trở lại;
      • Muốn biết nạn nhân có thở hay không phải ghé sát tai vào mũi và mồm nạn nhân;
      • Nếu thấy thở và nhìn thấy sự vận động của ngực và thnahf bụng tức kaf nạn nhân đã thở trở lại.

      2. Hô hấp hỗ trợ:

      - Khi cổ của nạn nhân ngửa ra hẳn phía sau mà nạn nhân không tự thở được phải hô hấp nhân tạo kiểu mồm mồm hoặ mồm mũi. Nhung bao giờ cũng phải giữ cho đường thở thông suốt:

      + Thở mồm mồm:

      • Lấy một hơi thở thật sâu sau đó ngậm kín vào mồm nạn nhân và thổi mạnh vào, bắt đầu thở mạnh và nhanh 4 lần liền, quan sát lồng ngực nếu khi thổi vào lồng ngực phồng lên và khi thổi xong lồng ngực lại xẹp xuống là có kết quả.
      • Để cùi bàn tay kia vào trán, ngón cái và ngón trỏ kẹp chắt hai cánh mũi không để không khí thoát ra trong khi vẫn dùng lực đẩy lên trán cho cổ ngửa hẳn ra sau;
      • Giữ cho nạn nhân ngửa hẳn ra sau bàng một tay sau gáy;

      + Thở mồm mũi:

      • Thủ thuật này thực hiện khi không mở được mồm nạn nhân ra, khi mồm co thương tích nặng khi không thể pá kín môi vào nhau được:
      • Một tay giữ cho nạn nhân ngửa hẳn ra phía sau, còn tay kia đỡ dưới cằm để nạn nhân ngậm kín môi vào;
      • Lấy một hơi thật sâu, ngậm môi mình quanh mũi nạn nhân và thổi mạnh và dần dần cho tới khi ngực nạn nhân căng lên, thổi liên tục 4 lần.

      (Nguồn Sưu tầm)

Trang 1 / 14