• 1. Quả bầu - lợi tiểu giải độc
    • (Vishipel) - Thịt quả bầu vị ngọt, tính hàn, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, được dùng trị chứng đái rắt, phù nề, đái tháo, mụn lở...

      Cây bầu còn gọi là bầu nậm, bầu đất, bầu canh, tên khoa học Lagenaria siceraria (Molina) Standl, thuộc họ bầu bí (Cururbitaceae). Là loại cây dây leo thân thảo, được trồng ở vùng nhiệt đới, cây có tua cuốn phân nhánh và phủ nhiều lông mềm màu trắng.

      Theo Đông y, bầu vị hơi nhạt, tính mát (có tài liệu lại cho là vị ngọt, tính lạnh), có công hiệu giải nhiệt, giải độc, lợi tiểu, nhuận phổi, trừ ngứa; chủ trị các chứng như trướng bụng, phù thũng, tiểu tiện ít, phổi nóng, ho...

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Cụ thể là thịt quả bầu vị ngọt, tính hàn, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, được dùng trị chứng đái rắt, phù nề, đái tháo, mụn lở... Vỏ bầu vị ngọt, tính bình, lợi tiểu, tiêu thũng nên cũng được dùng cho các chứng bệnh phù thũng, bụng trướng. Hạt bầu đun lấy nước súc miệng chữa bệnh sưng mộng răng lợi răng lung lay, tụt lợi. Lá bầu có vị ngọt, tính bình có thể làm thức ăn chống đói. Tua cuốn và hoa bầu có tác dụng giải thải nhiệt độc, nấu tắm cho trẻ em phòng ngừa đậu, sởi, lở ngứa. Quả bầu già sắc lấy nước uống có tác dụng lợi tiểu, chữa bệnh phổi phù nước (nhưng chỉ nên dùng kết hợp trị liệu trong bệnh phù nước khi ở cơ sở cấp cứu). Ngoài ra ở Ấn Độ người ta dùng hạt bầu trong trị bệnh phù và làm thuốc trị giun; hay dầu hạt bầu sử dụng trị chứng đau đầu. Còn loại bầu đắng thì tính lạnh, hơi độc, tác dụng lợi tiểu, thông đái rắt, tiêu thũng.

      Tuy nhiên không sử dụng bầu cho những người bị phong hàn, ăn không tiêu vì bầu có tính mát nên sẽ gây đau bụng nếu ăn nhiều.

      Dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc tiêu biểu chữa bệnh từ bầu:

      Dùng trong đái tháo đường, đái rắt hay máu nóng sinh lở: Thịt bầu 50 - 100g nấu thành canh ăn hằng ngày.

      Trị chứng vàng da: Rễ bầu sắc lấy nước thêm chút đường uống (theo kinh nghiệm ở Ấn Độ).

      Phổi nóng, sinh ra ho: Quả bầu 50g đun lấy nước uống thay trà trong ngày.

      Trị răng lung lay, viêm tụt lợi: Hạt bầu 20g, ngưu tất 20g, nấu lấy nước ngậm và súc miệng ngày 3 - 4 lần.

      Bụng trướng tích nước, tiểu tiện ít: Lấy quả bầu tươi 50 - 100g, đun lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Hoặc lấy vỏ bầu 30g, vỏ dưa hấu 30g, vỏ bí ngô 30g, hợp lại sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

      Báng nước do côn trùng đốt thời kỳ cuối: Vỏ bầu 15g đun lấy nước súc miệng ngày 3 - 4 lần.

      Viêm gan, vàng da, sỏi đường niệu, tăng huyết áp: Quả bầu tươi 500g, rửa sạch vắt lấy nước cốt và trộn đều với 250ml mật ong rồi uống ngày 2 lần, mỗi lần 30 - 50ml.

      (Nguồn ST)

  • 2. Tác dụng chữa bệnh tuyệt vời của rau hẹ
    • (Vishipel) - Cây rau hẹ còn có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo... là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.

      Cây rau hẹ còn có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo... là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.

      Cây rau hẹ rất dễ trồng và ít phải chăm sóc. Chỉ cần gieo hoặc trồng bằng cây con một lần, là có thể thu hoạch nhiều lứa, nhiều năm. Cây phát triển tốt quanh năm, vừa có thể làm rau ăn, vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết.

      Theo Đông y, cây rau hẹ có tác dụng làm thuốc cụ thể, lá hẹ để sống có tính nhiệt, nấu chín thì ôn, vị cay; vào các kinh Can, Vị và Thận. Có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ và giải độc. Thường dùng chữa ngực đau tức, nấc, ngã chấn thương,... Gốc rễ hẹ có tính ấm, vị cay, có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ, thường dùng chữa ngực bụng đau tức do thực tích, đới hạ, các chứng ngứa,... Hạt hẹ có tính ấm, vị cay ngọt; vào các kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, Thận, tráng dương, cố tinh. Thường dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, mộng tinh, di tinh, lưng gối yếu mềm.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Một số tác dụng chữa bệnh của cây hẹ

       Chữa cảm mạo, ho do lạnh: Lá hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước. Dùng liền 5 ngày.

      Chữa nhức răng: Lấy một nắm hẹ (cả rễ), rửa sạch, giã nhuyễn đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

      Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Hàng ngày sử dụng từ 100-200g rau hẹ, nấu cháo, nấu canh hoặc xào ăn. Không dùng muối hoặc chỉ dùng một chút muối khi chế biến món ăn. 10 ngày một liệu trình. Hoặc dùng củ rễ hẹ 150g, thịt sò 100g, nấu canh ăn thường xuyên. Có tác dụng tốt đối với bệnh đái tháo đường đã mắc lâu ngày, cơ thể đã suy nhược.

      Nhuận tràng, trị táo bón: Hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ, mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần, dùng liền 10 ngày.

      Chữa chứng đái dầm ở trẻ em: Nấu cháo gạo 50g, dùng 25g rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

      Chữa ho trẻ em do cảm lạnh: Lấy lá hẹ xắt nhỏ trộn với đường phèn hoặc mật ong vào cùng một chén, sau đưa chén vào nồi cơm hấp chín. Cho trẻ uống dần trong ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Dùng liền 5 ngày.

      Giúp bổ mắt: Rau hẹ 150g, gan dê 150g, gan dê thái mỏng, ướp gia vị vừa xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm, cách ngày ăn một lần, 10 ngày một liệu trình.

      Hỗ trợ điều trị xuất tinh sớm: Rau hẹ 200g, tôm nõn 200g, xào ăn với cơm.

      Chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém: Hạt hẹ 20g, gạo 100g, nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. 10 ngày một liệu trình.

      (Nguồn ST)

  • 3. Cháo thuốc trị cảm lạnh
    • (Vishipel) - Cảm lạnh là bệnh thường gặp trong mùa đông, do nhiệt độ xuống thấp, cơ thể không thể thích nghi kịp, dễ nhiễm cảm toàn thân đau mỏi, nhức đầu, chân lạnh...

      Cảm lạnh là bệnh thường gặp trong mùa đông, do nhiệt độ xuống thấp, cơ thể không thể thích nghi kịp, dễ nhiễm cảm toàn thân đau mỏi, nhức đầu, chân lạnh... Xin giới thiệu một số món cháo thuốc đơn giản, dễ làm, có tác dụng hỗ trợ điều trị cảm lạnh hiệu quả.

      Bài 1: Lá tía tô 12g, gạo lức 100g. Rửa sạch lá tía tô, cho 200ml nước sắc còn 100ml, bỏ bã, lấy nước cho gạo đã vo sạch vào, thêm 500ml nước nữa nấu thành cháo. Ăn nóng ngày 2 lần sáng và tối. Trong khi ăn hít hơi nóng bốc lên từ tô cháo càng nhiều càng tốt.

      Bài 2: Củ cải 150g, cà rốt 150g, rửa sạch, gọt vỏ, cắt miếng vừa ăn; sườn lợn 300g, rửa sạch, chặt miếng nhỏ, cho nước đun sôi, hớt bỏ bọt, đậy vung, đun lửa nhỏ. Khi sườn gần nhừ thì cho cà rốt, củ cải vào, nấu tiếp cho chín nhừ. Nêm nước mắm, muối, đường hoặc bột ngọt vừa ăn. Cho tiếp hành lá cắt khúc vào, đảo đều. Ăn nóng trong bữa cơm.

      Bài 3: Lá tía tô 30g, rửa sạch, thái nhỏ; gạo tẻ 50g; trứng gà 1 quả; hành tím 1 củ nhỏ, băm nhỏ; vài lát gừng tươi. Nấu gạo thành cháo nhừ rồi cho lòng đỏ trứng gà vào đánh tan, cho tía tô, hành, gừng vào quấy đều. Nêm gia vị vừa ăn. Cho ăn nóng, ra mồ hôi thì lau khô, nằm nghỉ, tránh gió lùa.

      Bài 4: Gạo nếp 30g, gạo tẻ 30g, vo sạch cho vào nấu nhừ thành cháo, ăn nóng. Ăn xong trùm kín chăn cho ra mồ hôi trong 10-15 phút. Dùng khăn khô lau sạch mồ hôi rồi nằm nghỉ

      Bài 5: Hành 5 củ, gạo lức 50g. Gạo vo sạch, đổ nước vừa đủ, nấu cháo chín thì cho hành đã thái nhỏ vào, chia ăn nóng vài lần trong ngày. Tác dụng làm ra mồ hôi, giải cảm sốt, ho, đau đầu, ngạt mũi, chảy nước mũi.

      Bài 6: Thịt gà mái 100g, gia vị gừng, hành vừa đủ, nấu cháo ăn ngày 1 lần, ăn vài lần.

      Bài 7: Gạo tẻ 100g, tía tô, hành hoa, gừng tươi, mỗi vị 20-30g, trứng gà 1 quả, gia vị vừa đủ, nấu cháo ăn nóng cho ra mồ hôi, nằm nghỉ ngơi.

      Bài 8: Gừng tươi 5 lát, hành cả rễ 6 nhánh, gạo 60g. Tất cả rửa sạch, cho gạo vào nồi cùng với 500ml nước, bắc nồi lên bếp nấu sôi, sau đó giảm lửa nhỏ, hầm cho đến khi cháo chín nhừ. Cho thêm hành và gừng vào nồi cháo, tiếp tục nấu thêm một lúc nữa là dùng được. Ăn nóng ngày 1-2 lần. Công dụng: làm ra mồ hôi, làm ấm cơ thể, giải cảm lạnh, ho, sổ mũi.

      (Nguồn ST)

  • 4. Vừng đen bổ gan, thận...
    • (Vishipel) - Vừng đen , tên khác chi ma, ô ma tử, hồ ma nhân... thuộc loài thực vật họ hồ ma. Theo các nghiên cứu của y học hiện đại, vừng đen có hàm chứa chất béo...

      Vừng đen , tên khác chi ma, ô ma tử, hồ ma nhân... thuộc loài thực vật họ hồ ma. Theo các nghiên cứu của y học hiện đại, vừng đen có hàm chứa chất béo, chất albumin, chất diệp toan, kích thích tố... tác dụng chống lão hóa, có thể ức chế các tế bào tự do trong cơ thể, chống xơ cứng động mạch, tăng lượng tế bào máu... Theo y học cổ truyền, vừng đen tính bình, vị ngọt, lợi về kinh gan, thận, đại tràng. Có tác dụng bổ gan, thận, bổ huyết, nhuận tràng. Dùng trong trường hợp đau đầu, hoa mắt, ù, tai, tóc bạc sớm, da khô, huyết hư, phế âm hư tổn.

      Ảnh minh họa (Nguồn internet)

      Vừng đen (chi ma) được sử dụng làm món ăn vị thuốc chữa bệnh như sau:

      Chi ma câu kỷ ẩm: vừng đen 15g, hà thủ ô 15g, câu kỷ tử 15g, cúc hoa 9g. Sắc uống. Chữa nhức đầu, hoa mắt, tóc bạc sớm, đại tiện táo.

      Chi ma hạnh đào đường: vừng đen 250g, hạnh đào nhân 250g, đường phèn 0,5kg. vừng đen và hạnh nhân rang chín. Đường phèn đun nóng cho vừng và hạnh nhân vào trộn đều đổ ra đĩa, chờ nguội có thể sắn hoặc cắt thành từng miếng nhỏ ăn cách nhật. Chữa suy nhược thần kinh, rụng tóc, chứng hay quên.

      Hắc chi ma cao: vừng đen 250g, mật ong, đường phèn, nước gừng tươi đều 100g. Nghiền vừng đen (hoặc cho vừng vào máy xay sinh tố) thành bột lỏng, cho nước gừng, mật ong, đường phèn trộn đều, đun cách thủy 60-90 phút. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20 ml. Chữa hen suyễn, người già cơ thể suy nhược.

      Chi ma phục linh: vừng đen 20g, phục linh 25g, bột mì , mật ong vừa đủ. Phục linh và vừng đen giã nát trộn bột mì và mật ong vào, hấp chín. Ăn thường xuyên để tăng cường thể lực, phòng chống bệnh tật.

      Hắc chi ma diêm: vừng đen rang chín với muối làm nhân bánh hoặc ăn với cơm. Dùng cho sản phụ ít sữa hoặc tắc sữa.

      Chi ma chúc (cháo vừng): vừng đen 20g, gạo lứt 50g. Vừng đen rang chín nấu cháo gạo lứt, thêm đường ăn. Chữa gan thận bất túc, đầu váng, mắt hoa, lưng đau, gối mỏi da khô, huyết hư...

      Chi ma chỉ khái tán: vừng đen 125g, đường phèn 30g. Nghiền chung thành bột. Mỗi lần uống 15-30g. Dùng cho người ho khan lâu ngày, phế âm hư tổn.

      Chi ma ích trí cao: vừng đen 50g, hà thủ ô 50g, trai ngọc 20g, thần khúc 50g, phục linh 50g, đào nhân 10g, bạch truật 50g, vỏ trong mề gà 10g, trần bì 20g. Nghiền chung thành bột mịn, cho mật ong vào hoàn viên. Ăn mỗi ngày 10-20g. Ăn thường xuyên có tác dụng kiện tỳ, cường thận, tóc đen, sinh tủy, tăng cường trí nhớ.

      Chi ma tứ thần hồ: vừng đen 1.000g, bổ cốt chỉ 30g, nhục đậu khấu 20g, ngũ vị tử 20g, táo tầu 35g, gừng tươi 100g, ngô thù du 10g. Tất cả (vừng đen sao thơm; bổ cốt chỉ, nhục đậu khấu, ngũ vị tử, ngô thù du: bỏ hạt) xay khô, tán bột, trộn đều, đựng vào lọ kín. Khi dùng cho nước ấm khuấy tan, không loãng không đặc là được, thêm đường, hấp cách thủy. Phương thuốc có tác dụng bổ gan thận, nhuận ngũ tạng

      (Nguồn ST)

  • 5. Lô hội - Cây thuốc quý
    • (Vishipel) - Lô hội còn có tên là nha đam, long tu, lưỡi hỗ... Tên khoa học: Aloe vera L var. Nha đam được dùng để làm cảnh, trong chế biến món ăn, mỹ phẩm và làm thuốc. Lô hội là nhựa cây nha đam. Nên chọn nhựa khô có sắc đen hoặc đen nâu, hơi có ánh bóng, cứng, không lẫn tạp chất là tốt.

      Ảnh minh họa (nguồn Internet)

      Lô hội chủ yếu có chứa chất antraglycozit, chủ yếu là aloin. Nhựa chứa acid amin, vitamin (B1, B2, B5, B6, B12, axít folic, C, A, E); khoáng tố vi lượng (Na, K, Ca, P, Cu, Fe, Zn, Mg, Mn, Cr)… Theo Đông y, lô hội vị đắng, tính hàn. Vào kinh can, tỳ, vị, đại trường. Có tác dụng thông đại tiện, thanh nhiệt, mát gan, sát trùng, thường dùng làm thuốc xổ trị táo bón, chữa viêm loét dạ dày, làm lành vết thương, bệnh ngoài da, thông kinh nguyệt, sỏi niệu, đái tháo đường... Dùng ít tác dụng kiện vị, mỗi lần uống 0,01 - 0,03g. Dùng nhuận trường, mỗi lần uống 0,06 - 0,2g. Dùng xổ, mỗi lần  1 - 2g. Sau đây là một số cách dùng lô hội làm thuốc:

      Trị cam, sát trùng, hòa vị, chỉ tả

      Dùng bài:  Lô hội hoàn: lô hội 40g,  hạc sắt 40g, lôi hoàn 40g, mộc hương 40g, thanh đại 40g, thuyền thoái 20 cái, vu di 40g, xạ hương 4g. Các vị tán bột làm hoàn, ngày uống 2 - 4g.

      Trị táo bón, tiểu bí do nhiệt kết

      Dùng bài: Lô hội thông tiện giào hoàn: lô hội 6g. Nghiền nát, phân ra cho vào 6 viên nang nhỏ. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 - 3 viên nang. Nếu không có viên nang, dùng đường trộn với thuốc, ngậm nuốt dần. Tác dụng: thanh nhiệt, thông lâm..

      Trị ghẻ lở, lở loét hậu môn

      Dùng  bài: Lô hội tán: lô hội 30g, cam thảo 15g. Tán bột. Dùng nước đậu hũ rửa chỗ loét rồi đắp thuốc vào.

      Trị can đởm thực nhiệt gây ra táo bón, tiểu đỏ, ít, hoa mắt, chóng mặt, nặng hơn thì co giật, phát cuồng, nói nhảm.

      Dùng bài: Đương quy lô hội hoàn: lô hội, đại hoàng, thanh đại (thủy phi) mỗi thứ 4g; đương quy, long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, hoàng bá, hoàng liên mỗi thứ 6g; mộc hương 5,5g, xạ hương 0,3g (để riêng). Các vị tán bột, luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 6 - 10g, ngày 3 lần.

      Trị cam nhiệt, giun đũa: lô hội 15g. Tán bột, mỗi ngày uống 6g lúc đói với nước  ấm.

      Mụn nhọt: lá lô hội tươi giã nát, đắp lên mụn nhọt.

      Trứng cá: lá lô hội tươi bóc vỏ, lấy phần gel tươi, xoa lên vùng bị trứng cá, ngày làm 1 lần. Làm liên tục nhiều ngày.

      Đái tháo đường: lá lô hội 20g. Sắc uống ngày 1 thang (có thể uống sống).

      Tiểu đục: lô hội tươi 20g giã nát, thêm đạm qua tử nhân 30 hạt, uống trước bữa ăn, ngày 2 lần. Có thể dùng hoa lô hội 20g nấu với thịt lợn ăn.

      Tiêu hóa kém: lô hội 20g, bạch truật 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần.

      Viêm loét tá tràng: lô hội 20g, dạ cẩm 20g, nghệ vàng 12g (tán bột mịn), cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần. Nếu ợ chua nhiều, thêm mai mực tán bột 10g chiêu với nước thuốc trên. 15-20 ngày là 1 liệu trình.

      Bế kinh, đau bụng kinh: lô hội 20g, nghệ đen 12g, rễ củ gai 20g, tô mộc 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1thang, chia 2-3 lần.

      Lưu ý:

      - Lô hội có tác dụng tẩy mạnh, vì vậy, nên giảm liều hoặc ngưng thuốc nếu có hiện tượng đi ngoài phân lỏng. Người đã bị đi ngoài phân lỏng thì không nên dùng.

      - Nên thận trọng khi dùng cho người cao tuổi.

      - Phụ nữ có thai và người tỳ vị hư nhược không được dùng.

      (Nguồn ST)

  • 6. Hoa đào – vị thuốc quý
    • (Vishipel) - Hoa đào Tết ngoài ý nghĩa tạo cho xuân thêm hương thêm sắc, còn thể hiện mong ước một năm mới sẽ mang tài lộc, sức khỏe và hạnh phúc đến cho mọi người, mọi nhà.

      Hoa đào Tết ngoài ý nghĩa tạo cho xuân thêm hương thêm sắc, còn thể hiện mong ước một năm mới sẽ mang tài lộc, sức khỏe và hạnh phúc đến cho mọi người, mọi nhà. Ngắm hoa đào trong không khí xuân mới, ta còn biết thêm ích lợi của nó đối với sức khỏe.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Theo Đông y, hoa đào tính bình, vị đắng, không độc. Lợi đại tiểu tiện, trục giun sán, tan sỏi thận, thông kinh huyết, hóa đàm, chữa điên loạn. Cách dùng: sắc uống hoặc tán bột 4 - 8g. Dùng ngoài tán bột rắc lên vết thương hoặc giã đắp.

      Chữa thủy thũng: hoa đào lượng vừa đủ, nghiền bột mỗi lần lấy 6g cho vào nước cháo loãng, uống lúc đói. Ngày 3 lần hoặc nấu cháo hoa đào ăn.

      Chữa táo bón: bột hoa đào 30g, bột mì 100g làm bánh ăn hoặc bột hoa đào 10g chia 2 lần hòa nước ấm uống lúc đói.

      Đau eo lưng: hoa đào 100g, gạo nếp 500g, hoa đào giã vụn, trộn gạo nếp cho nước nấu thành cơm khô để nguội rồi cho men rượu ủ thành cơm rượu dùng dần.

      Sỏi thận: hoa đào, hổ phách lượng bằng nhau. Nghiền hoa đào trộn đều với hổ phách mỗi lần 6g cho vào 1 tô lớn nước, nấu trong nửa giờ, lọc lấy nước uống. Ngày 2 lần.

      Liệt dương: hoa đào, hoa hồng, hoa tường vi, hoa mai, hoa hẹ, trầm hương mỗi thứ 30g, nhân hạt đào 240g, rượu gạo, rượu cồn mỗi thứ 1.250ml. Hòa trộn với nhau 7 vị trên cho vào túi lụa treo vào trong 1 hũ sành sứ bịt kín miệng hũ. Ngâm 1 tháng, mỗi lần uống 20ml ngày uống 2 lần vào 2 bữa ăn chính.

      Bế kinh: hoa đào 25g ngâm vào 250ml rượu trong 1 tuần. Mỗi lần uống 10ml hòa với nước ấm hoặc hoa đào 10g cho vào cơm rượu 50g trộn đều, chưng cách thủy cho nhừ hoa để bớt nóng, ăn cả cơm và hoa. Ngày 1 lần, liền 1 tuần.

      Lưu ý: Không dùng cho người có thai.

      (Nguồn ST)

  • 7. Quất - Cây cảnh đẹp, cây thuốc quý
    • (Vishipel) - Quất chẳng những là cây cảnh của mùa xuân, từ quả quất chín mọng, qua bàn tay khéo léo của con người được chế biến thành mứt quất, một món ăn của ngày Tết, nếu một lần được thưởng thức sẽ chẳng bao giờ quên bởi hương vị đặc trưng: ngọt, thơm, cay dịu... Quất còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh.

      Quả quất có mùi thơm, vị ngọt, chua và tinh dầu thơm cay của vỏ. Quả quất được dùng dưới dạng quả còn non hoặc đã chín.

      Theo Đông y, quả quất vị ngọt chua, tính ấm, vào các kinh phế, vị, can. Nó có công năng hóa đảm, trị ho, giải uất, tiêu thực, giải rượu. Vỏ có tác dụng mạnh hơn. Quất để càng lâu càng tốt. Hạt quất có tác dụng giảm ho, cầm máu, chống nôn, lá quất có nhiều tinh dầu, có tác dụng chữa cảm mạo phong hàn rất tốt.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Những bài thuốc chữa bệnh bằng quất

      Cảm mạo: Lá quất 30g, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, hòa đường vừa đủ, uống lúc nóng.

      Nôn mửa: Vỏ quất, gừng tươi, đất nung mỗi thứ 9g, sắc uống.

      Nghẹn: Vỏ quất 20g, sấy khô, tán thành bột, sắc uống nóng.

      Sa nang sưng đau: Rễ quất 15 - 16g, sắc uống.

      Ho nhiều đờm: Quất 5 quả, đường phèn vừa đủ, hấp cách thủy, ngày ăn 2 lần, liền trong 3 ngày.

      Ho gà trẻ em: Quất 10g, gừng tươi 6g, thiên trúc hoàng 6g, sắc uống mỗi ngày 1 lần.

      Ho do phế nhiệt: Dùng quả quất với củ cải ép lấy nước uống.

      An thần giảm ho: Quất 2 quả (bỏ vỏ, hạt, vách múi), bột ngó sen một ít, đường 100g, một ít hoa quế, nấu chè ăn.

      Chữa hậu sản, phù nề, vàng da: Quả quất non 50g, nghệ vàng 100g, nghệ đen 100g, hương phụ 100g, cặn nước tiểu 5g. Tất cả thái mỏng, phơi khô, tán bột mịn, trộn với mật ong làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 viên.

      Nước giải khát có tác dụng bổ, dễ tiêu: Quả quất chín 1kg rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim sạch châm sâu vào quả 5 - 6 lỗ rồi cho vào lọ rộng miệng cùng với đường kính 2kg; cứ một lớp quất lại một lớp đường. Đậy kín, để trong 7 ngày, được dịch quất đường (sirô quất) màu vàng mùi thơm. Khi dùng, lấy 1 - 2 thìa to sirô này pha với 150ml được đun sôi để nguội. Khuấy đều rồi uống.

      Chữa ho lâu ngày không khỏi: Hạt quất 10g, lá thạch xương bồ 10g, thêm 20g đường phèn hấp cơm, uống 2 - 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 5 - 10ml (1 thìa café).

      Chữa nôn ra máu: Hạt quất 20g, bóc bỏ vỏ lấy nhân, sao vàng, giã nhỏ, sắc lấy nước uống 2 lần/1 ngày. Cần chú ý tránh nhầm lẫn giữa hạt quất và hạt quýt (y học cổ truyền gọi là quất hạch).

      Ngoài ra, trong vỏ của quất, cam, quýt có chất tinh dầu giúp ngăn ngừa phát sinh ung thư gan, thực quản, đại tràng, da... Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, ăn quất cả vỏ sẽ cho vitamin C, chất xơ rất có lợi cho tiêu hóa và hạ được cholesterol, làm vững chắc thành mạch, chữa bệnh tăng huyết áp.

      (Nguồn ST)

  • 8. Giới thiệu các bài thuốc chữa chảy máu cam bằng thuốc nam
    • (Vishipel) - Kính thưa quý vị và bà con, chảy máu cam Đông y gọi là “Tỵ nục”- một trong những chứng “nục huyết”, bệnh phát sinh do huyết nhiệt vong hành nghĩa là huyết phận có nhiệt gây nên.

      Chy máu cam Đông y gọi là “Tỵ nục”- một trong những chứng “nục huyết”, bệnh phát sinh do huyết nhiệt vong hành nghĩa là huyết phận có nhiệt gây nên. Nguyên nhân chy máu cam gây bệnh thường không chỉ do tổn thương ở mũi mà còn do chức năng hoạt động các tạng phế, can, thận, tỳ, vị thiếu điều đạt mà sinh bệnh. Khi bị chảy máu cam thường dùng thuốc tại chỗ để chỉ huyết, có thể dùng một trong các phương sau:

      - Dùng một củ can khương gọt nhọn, đem nướng qua rồi nhét vào lỗ mũi.

      - Sơn chi tử (quả dành dành) hoặc tông lu bì (bẹ móc) đốt cháy tán bột nhỏ rồi rắc vào lỗ mũi.

      - Thanh tương tử (hạt mào gà trắng) sắc đặc nhỏ vào trong mũi sẽ cầm được huyết.

      Ngoài ra, có thể dùng một ít tỏi và hồng đơn đồng lượng giã nhừ trộn đều, nếu xuất huyết mũi trái thì đắp vào lòng bàn tay phải và ngược lại mũi phải thì đắp tay trái, huyết sẽ được cầm.

      Các thuốc đường uống: Trong mọi trường hợp khi xuất huyết đường mũi dùng:

      - Ngó sen tươi ninh với móng giò lợn, ăn vài lần.

      - Ngải diệp tươi 12g, trắc bá diệp 10g, sinh địa 12g sắc uống ngày 1 thang, 2 - 3 ngày liền hoặc lấy một nắm rau muống rửa sạch, giã nát thêm ít đường và pha chút nước sôi vào uống, ngày 1 lần.

      Nếu chay mau cam liên tục dùng một trong các bài sau:

      - Vương bất lưu hành 30g, sắc đặc, uống nóng, ngày 1 thang.

      - Đăng tâm 40g sao vàng tán bột, hoà với 4g chu sa, chia 2- 3 lần uống với nước cơm.

      - Rễ hẹ tươi 30g, rửa sạch sắc với 200ml nước đến còn phân nửa thêm đường đỏ 10g, uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần sẽ có tác dụng chỉ huyết.

      - Tam thất 6g (hoặc tông lư bì 6g), tóc người 6g (sao tồn tính), tán bột, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần với nước sắc trắc bách diệp, ngẫu tiết mỗi thứ 12g.

      - Nhân trung bạch (cặn nước tiểu) đem để lên hòn ngói mới bồi cho khô, nghiền nhỏ pha thêm một ít xạ hương, hoà rượu nóng cho uống.

      Trường hợp chảy máu cam do nhiệt dùng

      - Bài tứ sinh (bốn loại lá tươi) gồm tiên sinh địa hoàng 24g, ngải cứu tươi 6g, trắc bá diệp tươi 9g, hà diệp tươi (hoặc bạc hà tươi) 9g, sắc uống.

      - Hoặc trúc nhự 8g, sinh địa 8g, hoàng cầm 6g, bạch thược 6g, mạch môn đông 8g. Sắc uống ngày một thang.

      - Có thể dùng thiến thảo căn 10g, trắc bách diệp 5g, sinh địa 15g, ngũ vị tử 10g, hoàng cầm 5g, cam thảo 5g. Sắc uống.

      Trường hợp đổ máu cam do ảnh hưởng chức năng hoạt động của các tạng trong cơ thể

      - Do ăn nhiều thứ cay nóng làm cho vị nhiệt gây nên bệnh dùng thạch cao 24g, thục địa 24g, mạch môn đông 16g, tri mẫu 12g, ngưu tất 12g, lô căn 12g, mao căn 12g. Sắc uống.

      - Trường hợp âm hư hỏa vượng gây chảy máu cam dùng thục địa 24g, mạch môn đông 24g, tri mẫu 24g, ngưu tất 24g, huyền sâm 12g, a giao 12g, thiên môn đông 24g, ngẫu tiết 24g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần.

      - Nếu do can hỏa vượng bốc lên dùng bài: sinh địa 16g, đương quy 12g, hoàng cầm 8g, trắc bá diệp 8g, xích phục linh 10g, cam thảo 6g, xích thược 12g, hương phụ 10g, sơn chi 10g, hoàng liên 6g, cát cánh 10g, ngưu tất 12g. Sắc uống.

      - Nếu say sưa quá độ làm thương tổn đến phế mà nục huyết dùng bách thảo sương 20g, hòe hoa 80g, tán thành bột, mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần, chiêu với 60ml nước sắc bạch mao căn.

      - Trường hợp chảy máu cam do phế nhiệt dùng bạc hà 6g, hoàng kỳ 10g, sinh địa 16g, a giao 8g, mao căn 12g, mạch môn đông 12g, bồ hoàng 6g, bối mẫu 8g, tang bạch bì 10g, cát cánh 10g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 9. Gấc món ngon, thuốc quý
    • (Vishipel) - Gấc là cây rất quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Cơm quả gấc dùng nấu xôi, các bộ phận khác như hạt, rễ, lá, dây gấc đều là vị thuốc quý.

      Cơm quả gấc: vị ngọt tính bình. Tác dụng bổ tỳ vị, dưỡng khí huyết, ích can thận, sáng mắt... Trị chứng hư nhược, mắt yếu mắt mờ, phụ nữ có thai, trẻ em còi, chức năng gan yếu. Dùng dưới dạng quả chín nấu xôi ăn, ép lấy dầu gấc, quả non nấu canh, xào ăn. Đặc biệt, cơm cùi quả gấc chứa rất nhiều vitamin A, E - chất có vai trò trong phòng trị bệnh về tim mạch, sa sút trí não, mắt yếu, mắt mờ.

      Hạt gấc (mộc miết tử): vị ngọt, tính ấm, hơi có độc. Tác dụng thông huyết ứ, tiêu mụn nhọt, hạ ch kết, làm mau khỏi chỗ sưng đau. Ngâm với dấm bôi chủ trị quai bị, mụn hạch, anh lựu cổ có bướu, tràng nhạc hạch đàm kết, huyết tích khối rắn chắc sưng đau. Ngâm rượu, bôi trị chứng sang thương huyết ứ bầm tím sưng đau.

      Rễ gấc (mộc miết căn): vị đắng, tính mát. Tác dụng tiêu viêm, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống. Cách dùng: ngâm rượu hoặc sắc uống ngày 2 lần, mỗ i lầ n sắ c12-14g, chữa cơ khớp đau nhức.

      Lá gấc (mộc miết diệp): dùng tươi giã đắp ngoài chữa sưng đau, lá non làm rau, nấu canh hoặc xào ăn, tác dụng bổ mát, nhuận tràng.

      Sau đây là một số cách dùng gấc chữa bệnh:

      Chữa hoàng đản (người uống rượu nhiều quá sinh chứng hoàng đản (vàng da), tiểu vàng đậm mệt mỏi): hạt gấc 2-3 hạt mài với dấm gạo cho uống ngày 3lần/30ml nếu tiểu tiện thông lợi được rất hiệu nghiệm.

      Chữa chứng cước khí (hai chân sưng đau lâu ngày): nhân hạt gấc thái lát trộn cám gạo sao vàng ép bỏ dầu tán nhỏ 40g, bột quế 20g, mỗi lần dùng 8g pha với rượu trắng và nước, uống ngày vài lần cho ra mồ hôi.

      Chữa sán khí (dịch hoàn sưng đau): nhân hạt gấc 30g hoặc hơn mài với dấm thanh bôi đắp ngày vài lần.

      Chữa bệnh trĩ (bị trĩ sưng đau quá mức): hạt gấc 2-3 hạt giã nát hòa với nước xông rử a và lấy nước đặc bôi lên ngày vài lần.

      Chữa chứng loa lịch (ở cổ phát nổi nhiều hạch sưng đau): nhân hạt gấc 2 cái ép bỏ dầu hòa với lòng trắng trứng gà chưng thật chín ăn sau bữa cơm, dùng 15 ngày một liệu trình rất hay.

      Chữa chứng đan độc anh lựu (ở cổ nổi hạch sưng đau): nhân hạt gấc 7-9 cái tán nhuyễn hòa với dấm gạo bôi đắp nhiều lần.

      Chữa quai bị: nhân hạt gấc 40g, xích tiểu đậu, đại hoàng 40g. Các vị tán nhuyễn hòa dầu mè bôi ngày vài lần.

      Chữa răng lợi sưng đau chảy máu (răng lợi thường viêm sưng đau chảy máu): hạt gấc giã nhỏ hòa nước ngậm khoảng 30 phút rồi nhổ đi.

      Lưu ý: nhân hạt gấc có độc dùng chủ yếu bôi đắp ngoài, không dùng cho người hư nhược, không có huyết ứ. Người không có kinh nghiệm không dùng. Nếu uống dùng khoảng 2-4g (1-2 nhân).

      (Nguồn ST)

  • 10. Lợi ích sức khỏe của cây đinh hương
    • (Vishipel) - Đinh hương là loại thảo mộc được sử dụng làm gia vị cho món ăn, trà… Đinh hương giàu chất chống oxy hóa, protein, chất xơ, canxi, sắt, kẽm, kali, niacin, folate, vitamin B, vitamin C, vitamin E, vitamin K và vitamin D, nên có nhiều lợi ích sức khỏe. Dưới đây là những công dụng chữa bệnh mà có thể bạn chưa biết.

      Giảm tiểu đường

      Đinh hương tốt cho những người có hàm lượng đường huyết cao vì nó có chức năng giống như insulin trong cơ thể. Nó giúp chuyển lượng đường dư thừa từ máu vào trong các tế bào cơ thể, vì vậy bình thường hóa được lượng đường và cũng điều trị được bệnh.

      Tốt cho xương và khớp

      Đinh hương giàu các chất như eugenol và flavonoid làm tăng mật độ xương và khoáng chất trong xương, do đó giúp chúng ta khỏe mạnh hơn. Những người có xương yếu, đặc biệt là phụ nữ, người già, nên dùng đinh hương thường xuyên.

      Tăng cường miễn dịch

      Ăn đinh hương bảo vệ bạn chống được phần lớn các bệnh nhiễm trùng vì nó giúp tăng cường hệ miễn dịch. Nó làm tăng số lượng tế bào bạch cầu, vì vậy giúp cơ thể chống nhiễm trùng.

      Giảm đau và viêm

      Đinh hương có thuộc tính giảm đau và chống viêm. Hợp chất eugenol có trong đinh hương có thể giảm đau và viêm. Vì vậy đinh hương có thể thay thế cho các thuốc giảm đau và chống viêm.

      Chữa đau nhức răng

      Nếu bạn bị đau răng do sâu răng, hãy đặt một nhánh đinh hương lên chiếc răng bị đau một thời gian để giảm đau. Đinh hương có thể giảm đau và làm cho các dây thần kinh bị tê liệt do có thuộc tính gây tê cục bộ.

      Phòng ngừa ung thư

      Đinh hương có thể tiêu diệt tế bào ung thư trong cơ thể và một nghiên cứu chỉ ra rằng đinh hương có thể có lợi trong việc kiểm soát ung thư phổi, ung thư vú, ung thư buồng trứng và các loại ung thư khác ở giai đoạn đầu. Vì vậy hãy ăn nhiều đinh hương để bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh ung thư.

      Chữa đau đầu

      Đinh hương có thể được dùng để giảm đau đầu. Trộn bột đinh hương và muối mỏ trong 1 cốc sữa. Uống loại hỗn hợp này để giảm đau đầu.

      (Nguồn ST)

  • 11. Bài thuốc hay trị viêm xoang
    • (Vishipel) - Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh mạn tính phổ biến và rất dễ phát sinh bệnh, đặc biệt là vào mùa thu đông, thời tiết lạnh và khô hanh, môi trường ô nhiễm…

      Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh mạn tính phổ biến và rất dễ phát sinh bệnh, đặc biệt là vào mùa thu đông, thời tiết lạnh và khô hanh, môi trường ô nhiễm… Theo y học cổ truyền, nguyên nhân là do cơ địa dị ứng nhiễm khuẩn (huyết nhiệt), dị ứng do lạnh (phế khí hư, vệ khí hư) gặp phải các tác nhân phong hàn, phong nhiệt, nhiệt độc mà gây bệnh.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Viêm xoang được chia làm hai loại: viêm xoang dị ứng và viêm xoang nhiễm khuẩn. Sau đây là một số bài thuốc tùy thể bệnh chữa trị.

      Viêm xoang dị ứng: Nguyên nhân thường do phong hàn kết hợp với phế khí hư và vệ khí hư. Phép chữa là bổ khí cố biểu, khu phong tán hàn. Dùng một trong các bài thuốc sau:

      Bài 1: Bạch truật 12g, quế chi 8g, tang bạch bì 10g, bạch chỉ 12g, cam thảo 4g, gừng 4g, hoài sơn 16g, ké đầu ngựa 16g, xuyên khung 16g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Bài 2: Tiểu thanh long thang gia giảm: ma hoàng 6g, quế 6g, bạch thược 12g, gừng khô 4g, cam thảo 4g, tế tân 4g, bán hạ chế 8g, ngũ vị tử 4g, đẳng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, khương hoạt 8g, ké đầu ngựa 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Bài 3: Ngọc bình phong tán và quế chi thang gia giảm: hoàng kỳ 16g, phòng phong 6g, bạch truật 8g, quế chi 8g, bạch thược 12g, gừng 2g, đại táo 6g. Nếu bệnh mới mắc chảy nước mũi nhiều, thêm ma hoàng 4g, tế tân 6g. Nếu mệt mỏi, đoản hơi, thêm đẳng sâm 16g, kha tử 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Viêm xoang do nhiễm khuẩn: Nguyên nhân thường do nhiệt độc. Có hai thể cấp và mạn tính:

      Thể cấp tính: Bệnh mới phát, người bệnh ngạt mũi, chảy nước mũi vàng có mủ, xoang hàm và xoang trán đau, viêm mũi, người sợ lạnh, sốt, nhức đầu. Phép chữa là thanh phế nhiệt giải độc.

      Bài 1: Kim ngân hoa 16g, hy thiêm thảo 16g, ké đầu ngựa 16g, mạch môn 12g, chi tử 8g, dấp cá 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

      Bài 2: Tân di thanh phế ẩm gia giảm: tân di 12g, hoàng cầm 12g, sơn chi 12g, thạch cao 40g, tri mẫu 12g, kim ngân hoa 16g, mạch môn 12g, dấp cá 20g. Nếu sợ lạnh, sốt, nhức đầu bỏ hoàng cầm, mạch môn; thêm ngưu bàng 12g, bạc hà 12g.

      Thể mạn tính: Bệnh kéo dài, xoang hàm và trán ấn đau, thường chảy nước mũi có mủ, mùi hôi, mất khứu giác, thường xuyên nhức đầu. Phép chữa là dưỡng âm nhuận táo, thanh nhiệt giải độc. Bài thuốc: sinh địa 16g, huyền sâm 12g, đan bì 12g, mạch môn 12g, kim ngân 16g, ké đầu ngựa 16g, tân di 8g, hoàng cầm 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

      (Nguồn ST)

  • 12. Chữa bệnh bằng hoa chuối
    • (Vishipel) - Theo dược học cổ truyền, hoa chuối vị ngọt, tính lạnh, có công dụng hóa đàm nhuyễn kiên, bình can tiêu ứ, thông kinh hoạt lạc, thường được dung để chữa các chứng bệnh như ngực bụng đầy chướng.

      Theo dược học cổ truyền, hoa chuối vị ngọt, tính lạnh, có công dụng hóa đàm nhuyễn kiên, bình can tiêu ứ, thông kinh hoạt lạc, thường được dung để chữa các chứng bệnh như ngực bụng đầy chướng, hay ợ chua, nôn nhiều đờm rãi, mắt hoa đầu choáng, đau tức vùng tim, rối loạn kinh guyệt, chỉ khát nhuận phế, thông huyết mạch, lợi xương tủy…

      Hoa chuối là một cụm hoa mang bởi một thân thật mọc xuyên qua thân giả, vượt qua tán lá rồi buông thõng. Cụm hoa gồm những lá bắc màu đỏ tía xếp úp lên nhau thành hình nón dài, ở kẽ mỗi lá bắc có khoảng 20 hoa xếp thành hai hang, hoa ở gốc là hoa cái, ở giữa là hoa lưỡng tính, ở ngọn là hoa đực. Bao hoa gồm ba lá dài và hai cánh hoa dính liền, ở đầu có 5 răng. Cánh hoa thứ ba tạo thành cánh môi mầu hồng nhạt, nhị 5, bầu hạ, 3 ô.

      Một số  cách dùng hoa chuối chữa bệnh, cụ thể như sau:

      Hỗ trợ điều trị chứng nhịp tim nhanh: Hoa chuối 30g, tim lợn 1 quả. Đem hoa chuối sắc trong 30 phút lấy nước bỏ cái rồi cho tim lợn vào nấu chín, ăn trong ngày. 10 ngày là một liệu trình.

      Ăn không tiêu, đầy chướng bụng, nôn nấc: Hoa chuối 10g đem sắc với một lượng nước vừa phải trong khoảng 10 phút, sau đó lọc lấy nước, để nguội rồi hòa với 1 chén rượu nhỏ uống. Hoặc hoa chuối lượng vừa đủ sấy khô, tán thành bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 6g với nước ấm. Dùng 3 - 5 ngày.

      Đau dạ dày: Hoa chuối, hoa trà ký sinh trên cây tiêu mỗi thứ 15g, sắc với một lượng nước vừa đủ trong khoảng 10 phút rồi lọc lấy nước uống. Hoặc hoa chuối 10g, gạo tẻ 30g, hai thứ đem nấu thành cháo ăn trong ngày. 10 ngày là một liệu trình.

      Bụng chướng đau, ợ chua: Hoa chuối 6g sắc uống. Dùng liên tục trong 3 ngày.

      Nấc: Hoa chuối 60g sấy khô, tán thành bột, uống mỗi lần 6g với nước ấm, mỗi ngày 3 lần.

      Kiết lỵ: Hoa chuối 30g rửa sạch, nghiền nát rồi hãm với nước sôi uống, có thể pha thêm một chút mật ong.

      Nhọt độc, ung thũng: Hoa chuối lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát đắp lên tổn thương đến khi khỏi thì dừng.

      Bế kinh: Hoa chuối 15g, hoa quế 5g, hoa hồng 10g, tất cả đem sấy khô, tán thành bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 với rượu ngâm hoa cúc (hoàng tửu), nếu không có rượu hoa cúc thì có thể thay bằng rượu trắng.

      (Nguồn ST)

  • 13. Cấp cứu tổn thương do sức ép
    • (Vishipel) - Cấp cứu tổn thương do sức ép

      Sức ép ở đầu cũng tương tự như chấn động não. Có thể liệt chi do tổn thương tủy sống nạn nhân có thể bị bất tỉnh hoặc hôn mê hoàn toàn trong một số trường hợp có thể thấy nạn nhân ngồi ở đâu đó, không cử động được và cũng không biết việc gì xảy ra, có khi bề ngoài thấy một tổn thương nhưng nạn nhân thấy không còn có một chút sức lực nào và không cửa động được. Nạn nhân có thể tạm thời ngớ ngẩn, không hiểu xử trí thế nào.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Ví dụ: khi tàu bị chìm, mặc dù có thể thoát ra rất dễ dàng nhưng họ không tự làm, thậm chí có thể chết đuối khi ngâm mình vào 20cm dầu hoặc nước.

      Nếu họ bất tỉnh xử trí như các trường hợp bất tỉnh khác đã nêu ở phần trước.

      Nếu nạn nhân bị ngớ ngẩn nên đưa họ ra nơi an toàn, nói cho biết thật kỹ lưỡng những việc họ cần làm, nên coi họ như một đứa trẻ tuyệt đối không để họ tự xử lý, nguy hiểm cho tính mạng.

      2. Chấn thương bụng

      Tổn thương ở bụng thường là chảy máu các phủ tạng do sóng của vụ nổ gây ra, thường gặp khi nổ dưới nước đối với người làm việc dưới nước hoặc là các va đập mạnh vào vùng bụng. Sốc và đau trong ổ bụng là những dấu hiệu chủ yếu và có thể xảy ra một thời gian sau nổ hoặc chấn thương.

      Sức ép làm tổn thương các mao mạch phổi làm chảy máu trong phổi làm chảy máu trong phổi, nạn nhân sẽ bị sốc, khó thở, cảm thấy ngực bị bó chặ, đau, mặt xanh và có giọt máu ở miệng. Để nạn nhân ra nơi thoáng khí nếu có thể và để ở tư thế nửa ngồi. Nới các quần áo quá chật, giữ ấm, khuyến khích họ ho và khạc hết đờm dãi, không nên sử dụng Morphin, nếu suy thở có thể hỗ trợ bằng thổi mồm – mồm.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 14. Hướng dẫn sơ cứu trật khớp
    • (Vishipel) - Hướng dẫn sơ cứu trật khớp

      Phát hiện: Trật khớp là khi một xương di chuyển ra khỏi vị trí bình thường của nó ở khớp. Có thể chẩn đoán khi có một chấn thương ở gần khớp và khớp không còn hoạt động bình thường được nữa. Động tác bị giới hạn, đau có khi rất đau khi cố cử động khớp, vùng khớp bị biến dạng do khớp trật ra ngoài và do tụ máu và có khi vừa trật khớp vừa gãy xương.

      Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

      Xử trí: Trật khớp có thể kín hoặc hở. Nếu có một vết thương gần nơi trật khớp, phải băng vết thương để cầm máu và đề phòng nhiễm trùng. Có thể có gãy xương vì vậy đừng  nắn lại khớp bị trật sẽ gây nên những hậu quả tai hại. Cần cố định và kỹ thuật cố định tương tự như trường hợp gãy xương ở khu vực này. Chú ý đến tình trạng tuần hoàn của chi ở phía dưới ổ trật khớp. Trường hợp không sờ thấy mạch ở cổ tay hay mắt cá, thử di động chi phía dưới chỗ trật khớp một cách hết sức nhẹ nhàng cho tới khi thấy mạch đập trở lại và cố định chi ở tư thế đó. Quan sát màu da ở ngón tay, ngón chân nếu từ trắng bệch sang xanh tím chuyển sang hồng hào là được.

      Nên để nạn nhân ở tứ thế thoải mái khi vận chuyển, nếu trật khớp chi trên thì để ngồi, đối với trật khớp các chi khác thì để nằm ngửa.

      (Nguồn Sưu tầm)

  • 15. Nguyên tắc xử trí cấp cứu ban đầu cho thuyền viên bị nạn trên biển
    • (Vishipel) - Nguyên tắc xử trí cấp cứu ban đầu cho thuyền viên bị nạn trên biển

      Mục tiêu của xử trí ban đầu là:

      - Trong một số trường hợp như chảy máu nặng hay ngạt thở, cần phải xử trí ngay nếu như nạn nhân còn sống, từng giây phút hết sức quý báu, quyết định sự sống chết của nạn nhân.

      - Có những tai nạn có thể cấp cứu sau một vài phút để có thể triệu tập những người chuyên trách về sơ cứu cũng như phương tiện cần thiết.

      - Tất cả các thuyền viên đều phải được học về sơ cứu, có những hiểu biết tối thiểu, sẵn sàng thực hiện các biện pháp khẩn cấp và quyết định trường hợp nào có thể trì hoãn đợi người thông thạo về sơ cấp cứu đến. Người nào không được huấn luyện phải biết những giới hạn của mình. Các quy trình và cứu trợ vượt khả năng của người cứu trợ không được mang ra làm thử vì sẽ gây tai nhiều hơn là có lợi.

      Các ưu tiên khi cấp cứu cho nạn nhân:

      - Nghĩ ngay tới sự an toàn của chính mình, không thể tự biến mình thành một nạn nhân nữa;

      - Nếu cần thì chuyển người bị nạn khỏi nơi và tác nhân gây tai nạn hoặc rời tác nhân gay tai nạn ra xa nạn nhân;

      - Nếu chỉ có một nạn nhân bị bất tỉnh hoặc đang chảy máu thì sơ cứu ngay lập tức cho nạn nhân này, sau đó gọi người khác đến hỗ trợ;

      - Trường hợp có nhiều nạn nhân bị bất tỉnh và chảy máu thì cho gọi người tới hỗ trợ, sau đó sơ cứu khẩn cấp cho nạn nhân nào nặng nhất theo thứ tự ưu tiên như sau:

      - Nếu nạn nhân ở một chỗ chật và kín không nên vào đây trừ khi bạn là một nhân viên cứu trợ huấn luyện đầy đủ trong một đội cứu trợ hoạt động dưới sự chỉ đạo chặt chẽ. Cho gọi người tới hỗ trợ và báo cáo với thuyền trưởng;

      - Phải giả định là không khí ở nơi xảy ra tai nạn là không khí ở nơi xảy ra  tai nạn là độc hại. Đội cứu trợ không được vào nơi này trừ khi đã mang máy thở và cũng phải đem máy thở cho nạn nhân càng sớm càng tốt, nạn nhân phải được mau chóng chuyển ra vùng an toàn gần đó từ khi thương tổn đòi hỏi phải có một vài sự chăm sóc thiết yếu trước khi được di chuyển.

      (Nguồn Sưu tầm)

Trang 1 / 14