• 1. Hướng dẫn thử, kiểm tra định kỳ hàng năm thiết bị Satellite EPIRB 406MHz
    • Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngày càng nhiều công nghệ tiên tiến được áp dụng trong ngành Hàng hải đặc biệt là các thiết bị dẫn đường, xác định vị trí, thông tin liên lạc. Bên cạnh các thiết bị được lắp đặt trên tàu biển như Inmarsat, GPS, …, phao cấp cứu EPIRB 406 MHz cũng được Tổ chức Hàng hải quốc tế IMO khuyến cáo sử dụng và bắt buộc trang bị đối với một số loại tàu, thuyền hoạt động trên biển.
      Phao EPIRB 406 MHz là loại phao phát tín hiệu vô tuyến, sử dụng công nghệ vệ tinh của hệ thống Cospas-Sarsat. Đây là hệ thống vệ tinh được thiết kế để thu nhận các báo động cấp cứu về dữ liệu về vị trí để trợ giúp các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn. Hiện nay, hệ thống Cospas-Sarsat đang sử dụng phao EPIRB hoạt động ở tần số 406 MHz thay cho phao EPIRB 121.5 MHz. Phao EPIRB được thiết kế có thể được kích hoạt tự động hoặc nhân công. Khi được kích hoạt, Phao EPIRB sẽ phát tín hiệu lên vệ tinh để chuyển tiếp về Trạm mặt đất (LUT) xử lý và từ đó sẽ xác định được vị trí của Phao. Do vậy, Phao được lắp trên tàu để các đơn vị Tìm kiếm cứu nạn có thể xác định được vị trí tàu trong trường hợp khẩn cấp như tàu gặp sự cố, tai nạn hoặc chìm.
      Do tầm quan trọng của phao EPIRB đối với công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển, nên phao EPIRB được trang bị trên tàu phải thường xuyên được bảo trì bảo dưỡng, thử và bảo quản đúng cách, sao cho luôn ở chế độ sẵn sàng khi tàu hành trình trên biển. Bài viết này sẽ hướng dẫn cách thử định kỳ hàng năm thiết bị vệ tinh phao EPIRB 406MHz theo khuyến cáo MSC.1/Circ.1040/Rev.1 của IMO ban hành ngày 25 tháng 5 năm 2012. Theo đó, IMO nêu rõ việc thử hàng năm thiết bị vệ tinh EPIRB 406MHz được yêu cầu trong lần sửa đổi SOLAS IV/15.9 và việc thử nên sử dụng các thiết bị phù hợp có khả năng thực hiện được tất cả các phép đo được yêu cầu trong hướng dẫn. Nếu có thể, tất cả việc kiểm tra các thông số điện nên được thực hiện ở chế độ tự kiểm tra (self-test mode).
      Các bước kiểm tra bao gồm:
      1. Kiểm tra vị trí và việc lắp EPIRB về khả năng tự nổi của phao.
      2. Kiểm tra xem dây treo có chắc chắn trong điều kiện tốt; dây treo nên được xếp gọn gàng và không được buộc chặt vào tàu hoặc khung treo.
      3. Thực hiện việc kiểm tra bằng mắt thường xem có hỏng hóc nào không
      4. Tiến hành chế độ tự kiểm tra thông thường.
      5. Kiểm tra số nhận dạng của phao EPIRB (15 Hex ID và những thông tin được yêu cầu khác) có được hiển thị rõ phía bên ngoài của thiết bị.
      6. Giải mã 15 số nhận dạng Hexadecimal của phao (15 Hex ID) và những thông tin khác từ tín hiệu được phát đi từ phao, kiểm tra xem các thông tin sau khi được giải mã (15 Hex ID hoặc số nhận dạng MMSI/ hô hiệu, được yêu cầu bởi cơ quan quản lí) có giống với số nhận dạng được ghi trên  phao.
      7. Kiểm tra xem số nhận dạng hàng hải MMSI đã được mã hóa của phao EPIRB có khớp với số nhận dạng hàng hải MMSI đã được ấn định cho tàu.
      8. Kiểm tra việc đăng kí phao thông qua tài liệu hoặc các điểm liên lạc  dựa trên  mã nước.
      9. Kiểm tra thời hạn sử dụng của pin.
      11. Kiểm tra bộ nhả thủy tĩnh và hạn sử dụng.
      12. Khi kiểm tra chế độ phát xạ của phao trên dải 406MHz sử dụng chế độ tự kiểm tra hoặc với thiết bị phù hợp tránh việc phát tín hiệu khẩn cấp lên vệ tinh.
      13. Kiểm tra xem phao EPIRB đã được duy tu bảo dưỡng bởi một nhà cung cấp dịch vụ bảo dưỡng trên bờ được cấp phép trong những khoảng thời gian quy định theo yêu cầu của Cơ quan quản lí hành chính chưa.
      14. Sau khi kiểm tra xong, đặt phao EPIRB lên giá treo của nó, kiểm tra lại để chắc chắn rằng EPIRB không phát xạ tín hiệu;
      15. Kiểm tra xem có tài liệu hướng dẫn sử dụng của phao không.
      Đã có nhiều vụ tai nạn trên biển xảy ra do chủ quan của con người trong việc sử dụng các thiết bị vô tuyến điện trên tàu, trong đó thiết bị vệ tinh phao EPIRB.  Như chúng ta đã biết vào tháng 12 năm 2011 tàu Vinalines Queen, một con tàu hiện đại bậc nhất Việt Nam thuộc Công ty vận tải biển Vinalines đã chìm tại vùng biển đông bắc Philippines đặt ra nhiều câu hỏi cho các chuyên gia trong ngành hàng hải. Trong đó câu hỏi tại sao phao EPIRB trên tàu lại không phát tín hiệu cấp cứu khi tàu gặp sự cố ??? Theo các chuyên gia thể có nhiều nguyên nhân như phao bị mất, hỏng, đặt phao không đúng vị trí nên phao không tự nổi, phao đặt ở chế độ thử,… Tất cả đều là những nguyên nhân có thể dẫn đến việc phao không hoạt động. Nếu phao EPIRB trên tàu hoạt động bình thường thì việc xác định vị trí con tàu sẽ không mất nhiều thời gian như thế.
      Để có những hải trình an toàn, các bạn nên kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ hệ thống các thiết bị trên tàu sao cho các thiết bị này luôn ở trong chế độ sẵn sàng hoạt động.
      Trên đây là một số hướng dẫn cho những người đi biển về việc thử hàng năm thiết bị vệ tinh phao EPIRB 406MHz được khuyến cáo cho các chủ tàu và các công ty tàu biển áp dụng. Nếu cần biết thêm thông tin về phao EPIRB-406 MHz, về hệ thống Cospas-Sarsat, hãy gọi điện tới số  0084  31  3822 181 nếu gọi từ nước ngoài về, và 031  3822 181 nếu bạn ở trong nước. Đây là số điện thoại trực canh liên tục của Trung tâm điều hành thông tin vệ tinh Cospas-Sarsat tại Việt Nam.

      Phan Thị Linh – Trung tâm Xử lý Thông tin Hàng hải Hà Nội

  • 2. Kinh nghiệm phòng tránh mất liên lạc Tàu - Bờ
    • Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin đã mang lại rất nhiều lợi ích cho toàn xã hội trong đó có ngành tàu biển. Nó thúc đẩy các nước thành viên của tổ chức hàng hải Quốc tế IMO phát triển hệ thống thông tin liên lạc hiện đại và tự động hóa nhằm đảm bảo an toàn sinh mạng cho người và phương tiện đi biển ngày càng cao. Các quy định về trang thiết bị thông tin của IMO ngày càng chặt chẽ. Các đội tàu vận tải thuộc các tập đoàn, công ty lớn được trang bị một hệ thống thiết bị Vô tuyến điện toàn diện theo tiêu chuẩn SOLAS.  
      Những thiết bị này bao gồm: VHF DSC như là hệ thống chính cho tàu hoạt động gần các vùng gần bờ và dự phòng bằng phao vô tuyến vệ tinh chỉ báo vị trí khẩn cấp – EPIRB. Tàu đang hoạt động trong vùng đại dương có thể trang bị HF DSC hoặc MF DSC hoặc thiết bị thông tin vệ tinh Inmarsat và dự phòng bằng phao EPIRB.
      Ngoài việc là một thành phần của Hệ thống thông tin cấp cứu và an toàn hàng hải toàn cầu (GMDSS), người đi biển đa phần sử dụng thiết bị Inmarsat để trao đổi công việc. Các đơn vị chủ tàu có thể quản lý thông tin chính xác về tốc độ, hướng và vị trí của tàu, điều khiền giám sát và thu nhận dữ liệu từ tàu với độ tin cậy cao. Tuy nhiên tất cả các thiết bị và phương thức thông tin khác trong quy định của hệ thống GMDSS đều đóng một vai trò quan trọng. Trung tuần tháng 8 năm 2011, Đài TTDH Tp. Hồ Chí Minh nhận được tin báo: tàu Asian Fair II của Công ty TNHH MTV Hoàng Thành vừa được tiếp nhận từ nước ngoài và đang trên đường về Việt Nam. Những ngày đầu thông tin qua lại giữa tàu và Công ty đều đặn được cập nhật. Tuy nhiên những ngày tiếp theo Công ty không nhận được tin tức từ tàu. Anh Gia trưởng phòng DP (Phòng An ninh An toàn) công ty yêu cầu Đài trợ giúp khẩn cấp. Các bức điện gửi cho tàu bằng phương thức Inmarsat và DSC, các thông báo điểm danh có việc cho tàu cũng được liên tục gửi đi mà vẫn không nhận được phản hồi từ tàu. Đã 2 ngày trôi qua, sự lo lắng càng tăng thêm bội phần khi Đài Duyên hải vẫn không hề nhận được bất cứ cuộc liên lạc nào trên tất cả các phương thức liên lạc. Toàn bộ nhân viên Công ty Hoàng Thành và các Khai thác viên của Đài thật sự cảm thấy thực sự căng thẳng, công tác canh nghe được thực hiện hết sức cẩn trọng và nghiêm ngặt mong bắt được liên lạc với tàu, đảm bảo không bỏ sót bất kỳ thông tin nào.
      May sao đến ngày thứ 3, trên tần số trực canh 12359.0 Khz tàu Asian Fair II đã gọi bắt liên lạc với Đài. Thuyền trưởng Võ Văn Thống Nhất thông báo: Tàu vẫn đang hành trình an toàn về Việt Nam, thiết bị Inmarsat bị hỏng, thiết bị DSC vẫn thu được tín hiệu của Đài TTDH TP. HCM nhưng không thể báo nhận được. Nên chỉ còn cách liên hệ duy nhất với Đài qua phương thức thoại MF/HF. Thông tin nhanh chóng được thiết lập từ tàu tới chủ tàu.
      Ngay trong ngày hôm đó đại diện chủ tàu đã có buổi làm việc với Bộ phận Dịch vụ khách hàng của Đài TTDH Tp. Hồ Chí Minh. Anh Gia – Trưởng phòng DP thay mặt công ty cám ơn sự hỗ trợ thông tin nhanh chóng kịp thời của Đài TTDH Tp. Hồ Chí Minh và mời nhóm kỹ thuật viên xuống tàu Asian Fair II để truyền đạt những kinh nghiệm sử dụng thiết bị thông tin trong trường hợp khẩn cấp, thông tin an toàn hàng hải và thông tin liên lạc. Hướng dẫn về quy định về chế độ kiểm tra định kỳ và các giải pháp thông tin liên lạc tiếp theo khi các thiết bị gặp sự cố. Thuyền trưởng Nhất cho biết:  “việc trang bị thiết bị thông tin trên tàu đầy đủ theo hệ GMDSS là hết sức cần thiết. Nó giúp cho tàu và bờ không bị gián đoạn trong liên lạc. Trong chuyến đi này phương thức thoại MF/HF như là một cứu cánh cho cả thủy thủ đoàn, nó làm cho chúng tôi yên tâm trong một tình huống xảy ra mà không ai ngờ tới. Cả một hành trình dài như vậy mà mất liên lạc thì không biết tình hình sẽ đi đến đâu, công việc tìm kiếm tàu thật sự sẽ rất tốn kém. Những đội tàu vận tải lớn thường sử dụng những công nghệ thông tin hiện đại hơn, nhưng qua chuyến đi này tôi nhận thấy tất cả phương thức đều có tầm quan trọng lớn riêng  của nó”.
      Những yêu cầu trang bị thiết bị cho tàu hàng tùy thuộc vào vùng biển hoạt động, các tàu khai thác theo hệ thống GMDSS được trang bị các phương tiện sơ cấp và thứ cấp phục vụ cho việc báo động cấp cứu. Để đạt được hiệu quả cao cho sử dụng và hoạt động các thiết bị đài tàu nên có các biện pháp như:
      -    Trang bị máy dự phòng theo bộ đôi;
      -    Kiểm tra, bảo trì định kỳ;
      Trong tất cả các phương thức liên lạc, phương thức thoại MF/HF là phương tiện đơn giản và rẻ nhất. Với cách sử dụng đơn giản và có chức năng an toàn trên biển, chúng ta chỉ phải chi trả khoảng 2000đ cho một phút gọi từ biển vào đất liền qua các Đài TTDH tới máy điện thoại cố định.  Một chi phí nhỏ nhưng mang tới lợi ích vô cùng to lớn. Thủ tục mở thuê bao liên lạc qua Hệ thống Đài TTDH Việt nam vô cùng đơn giản và thuận tiện. Các Đài tàu hoặc cá nhân có thể đăng ký mở thuê bao ở một Đài có thể gọi và thanh toán tiền cước ở bất cứ Đài TTDH nào trong Hệ thống.
      Để thông tin có hiệu quả trên sóng trái đất, các thủy thủ nên chọn những dải tần thích hợp cho liên lạc với từng cự ly. Như ở trong vùng cận bờ thì dùng phương thức thoại VHF, vùng gần bờ thì dùng MF. Tàu hành trình trong vùng biển A4, HF là phương tiện phù hợp trong thông tin tới một Đài Duyên hải có khoảng cách xa bờ. Khi liên lạc cần lưu ý chọn tần số thích hợp với sự truyền sóng ban ngày hoặc ban đêm.
      Nếu trong trường hợp các tàu gặp phải tình huống tương tự như trên thì có thể canh nghe thông báo có việc (hay còn gọi là thông báo điểm danh) cho các tàu  từ Hệ thống các Đài TTDH Việt Nam. Trước khi phát thông báo điểm danh trên tần số làm việc thường phát giáo đầu trên 02 tần số 8291 kHz và 12359 kHz:
      -    vào phút thứ 03 của các giờ 01, 07, 09, 15, 17 và 23.
      -    hoặc vào phút thứ 33 của các giờ 00, 01, 06, 07, 08, 09, 14, 15, 16 17, 22 và 23.
      Các bức điện cho các tàu có việc sẽ được thông báo trên tần số làm việc của Đài đó. Các Đài THDH thường gọi các đài tàu dưới hình thức Điểm danh: gồm tên tàu hoặc nhận dạng khác của tất cả các tàu có điện hoặc có việc. Danh sách các tàu này được phát trên tần số làm việc của từng Đài TTDH 6 phiên một ngày.
      Do vậy, để bảo đảm an toàn cho người và phương tiện hoạt động trên biển, hãy áp dụng một biện pháp đơn giản nhưng có hiệu quả cao trong phòng tránh gián đoạn thông tin liên lạc tàu bờ. Nhưng lưu ý rằng, không được coi biện pháp dự phòng ấy là an toàn tuyệt đối, mà cần phải có những kỹ năng xử lý tình huống và sử dụng thành thạo các thiết bị thông tin liên lạc phòng ngừa mọi tình huống bất trắc.

      Trương Thị Lương Bình - Đài TTDH Hồ Chí Minh

  • 3. Sử dụng và cách khắc phục những sự cố cơ bản trên máy ICOM-718


    • Ngày nay, lưu lượng tàu đánh bắt xa bờ tăng rất nhanh, việc trang bị các thiết bị thông tin liên lạc là rất cần thiết cho những chuyến ra khơi của bà con ngư dân. Một trong những thiết bị thông tin liên lạc được dùng phổ biến nhất hiện nay là máy thu/phát MF/HF ICOM-718. Bởi vậy thiết bị liên lạc tầm xa này (ICOM-718) không còn xa lạ với bà con ngư dân. Nó gắn liền với ngư dân trong suốt cuộc hành trình trên biển, giúp cho ngư dân thông tin liên lạc về đất liền, thu các bản tin thời tiết, các bản tin bão để tránh, trú kịp thời và báo tin về hệ thống Đài TTDH Việt Nam trên tần số 7903 kHz khi có sự cố không may xảy ra. Thiết bị thông tin liên lạc ICOM-718 là thiết bị điện tử, hoạt động trong môi trường nước biển khắc nghiệt nên khả năng xảy ra các sự cố, lỗi cài đặt là rất cao. Nhằm giúp cho bà con ngư dân yên tâm trong việc sử dụng thiết bị đảm bảo thông tin liên lạc liên tục và sử dụng thiết bị kéo được độ bền,  bộ phận Kỹ thuật Đài TTDH Phú Yên sẽ hướng dẫn bà con ngư dân cách sử dụng, bảo quản và cách khắc phục các sự cố cơ bản thường xuyên xảy ra trên thiết bị ICOM-718.
      1.    Hướng dẫn sử dụng thiết bị ICOM-718
      Với thiết bị này khi bà con ngư dân mua về phải được cài đặt tần số của các Đài TTDH hoặc tần số riêng liên lạc trong đội tàu thì mới liên lạc được. Sau đây là cách cài đặt tần số, ở đây ta ví dụ cài tần số 7903 kHz trên kênh số 1.
      - Cài kênh: (ở đây ta ví dụ kênh số 1) ICOM-718 kênh được cài từ số 1 đên số 99, các bước làm như sau:
      •    Bật nguồn máy lên
      •    Bấm nút CH
      •    Bấm nút ENT
      •    Nhập vào số kênh (ở đây ta ví dụ kênh số 1 nên bấm nút số 1).
      •    Bấm nút ENT
      •    Bấm nút CH
      - Cài đặt tần số:
      •    Bấm nút ENT
      •    Nhập tần số (ở đây ta ví dụ tần số 7903 nên ta lần lượt bấm các nút số 7, 9, 0, 3, 0, 0)
      •    Bấm nút ENT
      •    Bấm nút MODE để chọn chế độ USB hay LSB
      •    Bấm giữ nút số 4 khoảng 3 giây để lưu nhớ tần số 7903 kHz vừa cài đặt trên kênh số 1.
      - Các núm vặn trên mặt máy:
      •    Trên mặt máy có 2 núm vặn kép nhỏ và 1 núm vặn lớn, nút vặn lớn giúp cho bà con ngư dân dò tìm tần số ít can nhiễu để liên lạc trong quá trình thao tác liên lạc về đất liền. Để tránh trường hợp chạm tay vào làm lệch tần số liên lạc, ta bấm nút “LOCK” để khóa nút vặn này lại, khi đó trên màn hình hiển thị chữ “Lock”
      •    Núm vặn kép AF- RF/SQL: phần núm AF là điều chỉnh âm lượng nghe to nhỏ. Phần núm RF/SQL thông thường ở vị trí giữa, lúc này trên màn hình có hiện chữ Rx, nếu chỉnh cao quá hay thấp quá thì thiết bị sẽ mất tín hiệu thu không nghe được (chữ Rx trên màn hình không còn).
      •    Núm vặn kép RIT- SHIFT: Núm vặn kép này thông thường ở vị trí chính giữa, nếu lệch khỏi vị trí giữa thì âm thanh nghe sẽ bị méo, khó nghe.
      2. Cách bảo quản bảo, dưỡng thiết bị
      •    Thiết bị trên tàu phải để trong hộp kín nước, chống rung lắc, va đập với các vật dụng khác.
      •    Kết thúc mỗi chuyến ra khơi bà con ngư dân cần phải vệ sinh toàn bộ bên ngoài do nước biển làm oxy hóa.
      •    Nếu thấy thiết bị oxy hóa nhiều có khả năng ảnh hưởng đến các mạch bên trong thì ngư dân nên đem đến nơi cung cấp thiết bị để vệ sinh, đo kiểm lại các thông số của thiết bị.
      3.    Các sự cố cơ bản thường xảy ra khi bà con ngư dân ra khơi và cách khắc phục
      - Máy không Tune được: Ở đây ta xét trường hợp bà con ngư dân sử dụng bộ phối của Nhật (AT -130), ta làm theo các bước sau:
      * Bước 1: Trước hết, bà con ngư dân hãy kiểm tra các Jack kết nối máy ICOM-718 với bộ phối hợp trở kháng (bộ Tune) có tiếp xúc tốt không, vệ sinh Jack nối với Anten, kiểm tra dây Anten có bị đứt hay không. Sau khi kiểm tra và làm vệ sinh sạch các Jack kết nối ta lắp lại như ban đầu và bật nguồn máy. Kiểm tra xem máy Tune được chưa, nếu máy vẫn không Tune được thì ta làm tiếp bước 2.
      * Bước 2: Vào phần cài đặt để kiểm tra lại thiết bị cài đặt đúng bộ AT-130 đang sử dụng không vì có khả năng thiết bị sử dụng một thời gian bị lỗi phần cài đặt, ta làm như sau:
      + Tắt máy (bấm nút PWR)
      + Nhấn đồng thời nút SET và nút mở nguồn (PWR)
      + Dùng nút mũi tên DN hoặc UP bấm đến khi nào trên màn hình xuất hiện chữ Tuner, dùng núm vặn lớn quay khi nào số 4 xuất hiện góc phải màn hình thì dừng.
      + Tắt nguồn máy bằng nút PWR
      + Bật nguồn máy trở lại bằng nút PWR, kiểm tra lại thiết bị đã hoạt động bình thường chưa. Sau khi làm hai bước trên mà thiết bị vẫn không Tune được thì khi vào bờ bà con ngư dân nên đem đên nơi cung cấp thiết bị để kiểm tra và sửa chữa.
      - Máy Tune được nhưng phát không được: Trong trường hợp này bà con ngư dân hãy kiểm tra dây kết nối giữa Micro (ống nói) với máy ICOM-718. Tháo ra vệ sinh sạch và kết nối trở lại, nếu không được thì khi vào bờ bà con ngư dân nên đem đến nơi cung cấp thiết bị để kiểm tra và sửa chữa
      - Thiết bị thu lúc to lúc nhỏ: Khi liên lạc về đất liền có lúc nghe to có lúc nghe nhỏ nguyên nhân chủ yếu là hướng của tàu thay đổi liên tục, để khắc phục vấn đề này bà con ngư dân nên cố gắng giữ hướng tàu mà khi nghe người nhà nói ra to, rõ trong quá trình liên lạc.
      - Nghe tiếng bị méo: Vì sự sơ ý của ngư dân nên núm vặn RIT bị lệch khỏi vị trí cân bằng (chữ RIT xuất hiện trên màn hình) dẫn đến tiếng phát ra từ loa bị méo, trong trường hợp này bà con ngư dân vặn núm vặn RIT trở lại vị trí cân bằng, khi đó trên màn hình không còn hiện chữ RIT. Trong trường hợp núm vặn RIT chuyển về vị trí cân bằng mà không mất chữ RIT trên màn hình thì bà con ngư dân nên đem đến nơi cung cấp thiết bị để sửa chữa, khắc phục.
      Trên đây là một số điều cơ bản trong việc sử dụng thiết bị thu/phát ICOM-718 nhằm giúp bà con ngư dân khi ra khơi đảm bảo thông tin liên lạc không bị gián đoạn.

      Bộ phận Kỹ thuật Đài TTDH Phú Yên

  • 4. Cách sử dụng và bảo dưỡng hệ thống nguồn điện trên tàu thuyền đánh bắt hải sản
    • Trên mỗi tàu đánh bắt hải sản, ngoài dụng cụ, nhu yếu phẩm thì nguồn điện phục vụ cho hoạt động đánh bắt, thông tin liên lạc và sinh hoạt hàng ngày là không thể thiếu. Nhằm giúp bà con ngư dân sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống nguồn điện trên tàu một cách an toàn và phân nguồn điện một cách hợp lý cũng như xử lý khi khi có sự cố xảy ra về điện, chúng tôi xin hướng dẫn bà con ngư dân những nội dung cơ bản trong quá trình sử dụng và bảo dưỡng hệ thống nguồn điện trên tàu.
      I. Giới thiệu chung về hệ thống nguồn điện trên tàu
       Trên tàu đánh bắt hải sản có máy phát điện nhằm tạo ra điện áp 24V DC dùng để sạc ắc quy. Hệ thống nguồn điện lưu trữ trong ắc quy có ít nhất là ba bình ắc quy có dung lượng đủ lớn, trong đó có hai bình được đấu nối trực tiếp tạo ra điện áp 24V DC. Hai bình ắc quy này được sử dụng cho quá trình khởi động máy phát điện và được sạc trực tiếp từ hệ thống sạc của máy phát điện. Bên cạnh đó, chúng còn được dùng cho các thiết bị thông tin liên lạc ICOM-718, ICOM-M710,…; thiết bị định vị; hệ thống điện sinh hoạt (Tivi, đầu đĩa) v.v…Bình ắc quy còn lại dùng dự phòng khi có sự cố xảy ra đối với một trong hai bình ắc quy nói trên.
      II. Cách sử dụng nguồn điện
      Trước khi ra khơi, bà con nên thực hiện các bước kiểm tra sau:
      -    Kiểm tra bộ sạc bình ắc quy.
      -    Kiểm tra độ lưu trữ của các bình ắc quy chính và dự phòng.
      -    Kiểm tra các dây đấu nối giữa các bình ắc quy và đấu nối từ các bình ắc quy với các thiết bị khác.
      Các thiết bị thông tin liên lạc, định vi dẫn dường GPS trên tàu đều sử dụng nguồn điện từ bình ắc quy. Do vậy bà con phải hết sức chú ý: trong quá trình sử dụng thiết bị thông tin liên lạc để liên lạc về nhà hay với các tàu bạn. Trước khi khởi động máy phát điện, bà con phải tắt toàn bộ thiết bị thông tin liên lạc đang sử dụng trên tàu nhằm tránh trường hợp dung lượng bình ắc quy giảm xuống dẫn đến thiết bị liên lạc bị chập chờn. Ngoài ra, còn tránh xung điện đột ngột tăng gây nguy hiểm đến thiết bị thông tin liên lạc.
      Hiện nay một số tàu cá còn sử dụng nguồn điện trực tiếp từ bình ắc quy 12V DC sử dụng cho các thiết bị thông tin liên lạc. Với cách sử dụng như vậy, khả năng thu phát tín hiệu bị hạn chế vì các thiết bị thông tin liên lạc yêu cầu nguồn cung cấp 13.8V DC. Do vậy các tàu nên sử dụng bộ ổn áp (bộ chuyển đổi nguồn 24V DC-DC 13.8V).
      Đối với bộ ổn áp chuyển đổi điện áp 24V DC sang 13.8VDC phục vụ cho thiết bị thông tin liên lạc, trước khi bật thiết bị bà con phải quan sát xem kim chỉ báo điện áp trên đồng hồ hiển thị đúng vạch 13.8 V DC hay không. Nếu kim chỉ báo quá cao so với vạch quy định thì bà con phải ngắt kết nối với thiết bị liên lạc ra khỏi bộ nguồn chuyển đổi này, tránh bị hỏng thiết bị.
      Thêm một lưu ý nữa đối với bà con: khi sử dụng thiết bị máy ICOM để liên lạc thì bà con nên tắt nguồn thiết bị phục vụ sinh hoạt như Tivi, đầu đĩa để đảm bảo nguồn điện đủ cho máy ICOM.
      III. Bảo trì bảo dưỡng
          Chúng tôi vừa hướng dẫn bà con cách sử sụng hệ thống nguồn điện đúng cách và an toàn. Bên cạnh việc sử dụng thì việc bảo trì bảo dưỡng là một trong những khâu hết sức quan trọng nhằm để duy trì tuổi thọ của hệ thống nguồn  điện, thiết bị trên tàu cũng như đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng. Do vậy, bà con ngư dân phải đặc biệt chú ý những vấn đề sau:
      - Đối với bộ sạc ắc quy phải đặt ở nơi khô ráo, tránh nước, tránh dầu mỡ,…. Phải có kế hoạch làm vệ sinh định kỳ, kiểm tra vị trí đầu nối dây, kiểm tra dây có bị hỏng hóc không.
      - Thường xuyên kiểm tra các cọc tiếp nối điện, cọc kẹp bình ắc quy vì các chỗ tiếp xúc này thường xuyên bị gỉ sét, phần bị nước biển ăn mòn, phần bị axit ăn mòn nên ta phải kiểm tra, bôi dầu mỡ định kỳ.
      - Hai bình acquy được đấu nối tiếp với nhau để tạo ra điện áp 24 V DC phục vụ cho bộ khởi động máy phát điện, thiết bị thông tin liên lạc, thiết bị chiếu sáng…. Do vậy bà con phải thường xuyên làm vệ sinh sạch sẽ nơi đặt bình ắc quy. Nơi đặt bình ắc quy phải khô ráo, hạn chế nước biển tối đa.
      - Đối với các tàu sử dụng bình ắc quy nước, thì bà con phải kiểm tra định kỳ dung dịch axit trong bình, phải bổ sung khi cần thiết (nếu mức axit xuống thấp hơn vạch cho phép).
      - Đối với tàu sử dụng bình ắc quy khô thì bà con phải kiểm tra định kỳ điện áp lưu trữ trong bình có còn đảm bảo thông số kỹ thuật hay không.
      - Đối với bộ ổn áp chuyển đổi điện áp 24V DC sang 13.8V DC bà con phải làm vệ sinh định kỳ các điểm đấu nối giữa thiết bị và bình ắc quy.
      Trên đây là những điều lưu ý trong quá trình sử dụng, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống nguồn điện trên tàu thuyền đánh bắt hải sản. Chúc bà con ngư dân luôn duy trì được một hệ thống nguồn điện an toàn, sử dụng thiết bị hiệu quả.

      Nguyễn Chí Công – Đài TTDH Phú Yên

  • 5. Quy định về đèn và dấu hiệu đối với tàu thuyền đánh bắt hải sản



    • Thời gian qua, số vụ đâm va tàu cá và tàu vận tải trên biển ngày một gia tăng. Điều này gây thiệt hại lớn về người và tài sản, đồng thời cũng gây tâm lý hoang mang, lo sợ đối với bà con ngư dân khi hoạt động đánh bắt hải sản trên biển.
      Có rất nhiều nguyên nhân để lý giải cho các vụ tai nạn đâm va. Nguyên nhân chủ yếu là xảy ra vào thời điểm trời tối, trong khoảng thời gian từ 22h00 ngày hôm trước đến 05h00 ngày hôm sau khi các tàu cá neo nghỉ, không có người canh trực cũng không có đèn báo hiệu nên thường gây ra thiệt hại lớn về người và tài sản của tàu cá. Một nguyên nhân nữa là các vụ đâm va kể trên đa phần đều do lỗi chủ quan của chủ tàu hoặc chủ tàu không biết về các quy tắc hàng hải chẳng hạn như quy ước về mở đèn và vị trí đặt đèn nên hậu quả là các tàu biển khác không nhận biết để kịp thời tránh.
      Theo Quyết định số 49/2005/QĐ-BGTVT ngày 04 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về Áp dụng Quy tắc Quốc tế phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển, trong đó có quy định về “Đèn và Dấu hiệu” đối với tàu thuyền đánh cá như sau:
      -    Tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới vét hoặc một dụng cụ đánh cá khác kéo lê chìm dưới nước phải trưng:
      o    Hai đèn chiếu sáng khắp bốn phía đặt trên một đường thẳng đứng (đèn  trên màu xanh  lục, đèn dưới màu trắng);
      o    Hoặc một dấu hiệu gồm hai hình nón châu đỉnh chóp vào nhau, cái nọ đặt cách cái kia trên một đường thẳng đứng và một đèn cột đặt cao hơn ở phía sau đèn có màu xanh lục chiếu sáng khắp bốn phía.
      -    Tàu thuyền có chiều dài dưới 50m không nhất thiết phải trưng đèn này, nhưng nếu trưng cũng được. Khi tàu thuyền còn trớn thì ngoài những đèn quy định còn phải trưng các đèn mạn và đèn lái
      -    Tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới vét có chiều dài từ 20m trở lên, dù sử dụng hay không sử dụng dụng cụ đánh cá chìm dưới đáy hoặc dụng cụ đánh cá voi phải trưng:
      o    Khi thả lưới mang hai đèn trắng đặt trên dưới theo chiều thẳng đứng.
      o    Khi kéo lưới mang đèn trắng trên, đèn đỏ dưới theo chiều thẳng đứng.
      o    Khi lưới bị vướng mắc vào chướng ngại vật mang hai đèn đỏ đặt trên dưới theo chiều  thẳng đứng.
      -    Mỗi tàu, thuyền đang rà kéo lưới đôi có chiều dài từ 20m trở lên phải trưng:
      o    Dọi đèn pha về phía trước và hướng về tàu thuyền kia đang cùng rà kéo lưới đôi với mình (ban đêm).
      -    Tàu thuyền đang đánh cá mà dụng cụ đánh cá không phải là lưới vét hoặc một dụng cụ đánh cá kéo lê chìm dưới nước phải trưng:
      o    Hai đèn chiếu sáng khắp bốn phía đặt trên một đường thẳng đứng, đèn trên màu đỏ, đèn dưới màu trắng hoặc một dấu hiệu gồm hai hình nón châu đỉnh chóp vào nhau, cái nọ đặt cách cái kia trên một đường thẳng đứng;
      o    Nếu dụng cụ đánh cá trải trên biển cách xa tàu thuyền trên 150m theo mặt phẳng ngang thì phải trưng một đèn trắng chiếu sáng khắp bốn phía hoặc treo một dấu hiệu hình nón đỉnh chóp lên trên đặt ở phía có dụng cụ đánh cá;
      o    Khi tàu thuyền còn trớn thì ngoài những đèn quy định tại khoản này còn phải trưng các đèn mạn và đèn lái.
      -    Tàu thuyền đang đánh cá bằng lưới nổi có thể trưng hai đèn vàng đặt trên dưới theo chiều thẳng đứng. Những đèn này mỗi giây phải luân phiên nhau chớp, khoảng thời gian sáng tối bằng nhau và có thể chỉ mang những đèn kể trên khi tàu thuyền di chuyển khó khăn do các dụng cụ đánh cá gây nên.
      Tuy nhiên, bà con cần lưu ý tầm nhìn xa của các đèn như sau:
      -    Đối với tàu cá có chiều dài từ 12m trở lên nhưng nhỏ hơn 50m: Đèn cột 5 hải lý, nếu chiều dài của tàu thuyền nhỏ hơn 20m thì 3 hải lý; Đèn mạn 2 hải lý; Đèn lái 2 hải lý; Đèn lai dắt 2 hải lý; Đèn trắng, đỏ, xanh lục hoặc đèn vàng chiếu sáng khắp 4 phía 2 hải lý;
      -    Đối với tàu cá có chiều dài dưới 12m: Đèn cột 2 hải lý; Đèn lai dắt 2 hải lý; Đèn trắng, đỏ, xanh lục hoặc đèn vàng chiếu sang khắp 4 phía 2 hải lý;
      -    Đối với các tàu cá loại nhỏ khó phát hiện: Đèn trắng chiếu sang khắp 4 phía 3 hải lý.
      Trên đây là những quy định về “Đèn và dấu hiệu” đối với tàu thuyền đánh cá, hy vọng bà con ngư dân chúng ta chú ý thực hiện đúng theo những quy định trên nhằm đảm bảo an toàn cho những chuyến ra khơi dài ngày, hứa hẹn mang về đất liền những khoang thuyền đầy ắp cá.

      Nguyễn Thị Huê - Đài TTDH Huế

  • 6. Một số kinh nghiệm đi biển hữu ích khi ngư dân gặp rủi ro trên biển


    • Với số lượng tàu thuyền ngày càng gia tăng, sản lượng khai thác đạt khoảng 200.000 tấn/tháng, khai thác hải sản là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm của nhiều địa phương trong cả nước. Các đội tàu hiên ngang vươn khơi bám biển không chỉ mang lại nguồn thu đáng kể cho nền kinh tế của đất nước mà còn góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo quê hương.
      Tinh thần kiên cường bám biển của ngư dân không gì có thể khuất phục. Tuy nhiên, trong quá trình tham gia sản xuất trên biển, họ luôn phải đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn có thể gây thiệt hại về tính mạng, tài sản: như bão lụt, gió lốc, tai nạn, đâm va, sự cố mất an toàn. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, thiệt hại về người và tài sản do thiên tai, sự cố trong hoạt động khai thác hải sản của ngư dân là rất nặng nề.
      Với mong muốn giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy đến với ngư dân khi gặp tình huống rủi ro trên biển, chúng tôi sẽ cung cấp một số kinh nghiệm đi biển hữu ích duy trì sự sống cho người bị nạn trên biển như cách chống khát, chống đói và chống nhiễm lạnh để bà con ngư dân và người đi biển có thể áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp.
      Đầu tiên là một số biện pháp chống khát khi trên biển.
      -    Con người sẽ chết khi mất nước từ 15-20% thể trọng cơ thể. Do vậy, lượng nước tối thiểu phải được cung cấp trên xuồng cứu sinh là 0,5 lít/ngày/ người, chính vì thế bà con phải hết sức tiết kiệm nước. Khi có thời cơ phải phải bổ sung nguồn nước (hứng nước mưa, thậm chí dữ trữ cả nước tiểu của mình,…). Luôn luôn có dụng cụ sẵn sàng hứng nước mưa;
      -    Sang ngày thứ 2 lúc bị nạn mới dùng lượng nước dự trữ trên tàu, xuồng. Mỗi ngày chỉ được uống dưới 500 ml/ người, chia làm 3-4 lần. Khi nước sắp hết thì rút xuống còn khoàng 200 ml/ngày/ người, chủ yếu dùng để thấm miệng và cổ họng.
      -    Không được uống nước tiểu khi đang còn nước ngọt. Chỉ dùng nước tiểu khi bất khả dĩ vì nước tiểu người bị nạn thường rất cô đặc do cơ thể đang thiếu nước nên chứa nhiều chất giải độc, uống vào dễ gây nôn mửa, làm tăng thêm mất nước cho cơ thể.
      -    Một số trường hợp sử dụng nước biển pha với nước ngọt để sử dụng chống khát. Tuy nhiên, lượng nước biển sử dụng không được quá 200-300 ml/ngày/ người.
          Trong tình huống tàu lênh đênh trên biển nhiều ngày, trên tàu hết lương thực, thực phẩm, bà con ngư dân và người đi biển cần lưu ý:
      -    Khi đói, cơ thể duy trì sự sống bằng chất đạm chính cơ thể mình, tất nhiên là không thể kéo dài lâu được.
      -    Khi uống ít nước, cơ thể không đòi hỏi phải ăn nhiều, vì vậy có thể giảm khẩu phần ăn xuống tỷ lệ thuận với khẩu phần nước uống. Ngược lại, khi có điều kiện uống thêm nước, nên tăng khẩu phần ăn để duy trì sức khỏe. Không nên dùng chất đạm nhiều vì khi chuyển hóa, cơ thể cần nhiều nước hơn, lúc đó cơ thể sẽ thấy khát nước nhiều hơn.
      -    Cá, chim bắt được trên biển là nguồn bổ sung thức ăn rất tốt, nhưng không được ăn nhiều cùng một lúc. Nên tránh các loại cá độc, ươn, thối, chết và không nên ăn gan cá, trứng cá.
          Nếu không may bị nạn vào mùa rét, mùa mưa, chúng ta sẽ rất dễ bị nhiễm lạnh kéo dài kèm theo viêm nhiễm đường hô hấp, gây mất sức và nguy hiểm đến tính mạng, do vậy cần phải có những biện pháp cấp cứu, dự phòng sau:
      -    Tận dụng các loại quần áo, chăn màn mang theo để đắp, mặc cho ấm. Dùng vải bạt, nilon, chăn màn che gió, mưa và nước biển té vào;
      -    Ngồi sát bên nhau cho ấm, thay nhau che gió, nên giữ ấm đầu.
      -    Không nên cử động nhiều để giữ nhiệt năng cho cơ thể. Thỉnh thoảng vận động chân tay bằng cách xoa bóp làm cho máu lưu thông, chống lạnh cục bộ.
      -    Sử dụng khẩu phần ăn hợp lý để cung cấp nhiệt lượng cho cơ thể.
          Trên đây là một số kinh nghiệm nhằm duy trì sự sống khi gặp sự cố trên biển và kéo dài nhiều ngày trong thời tiết bất lợi, rất mong bà con ngư dân chúng ta chú ý làm theo nếu không may gặp phải những hoàn cảnh nêu trên nhằm đảm bảo sức khỏe cho bà con trong suốt hành trình của mình. Bên cạnh đó bà con ngư dân cần chấp hành nghiêm các quy định về đăng ký, đăng kiểm, trang bị an toàn cho người và phương tiện nhằm giúp ngư dân phòng tránh thiên tai, rủi ro, tai nạn trên biển

      Nguyễn Thị Huê - ĐàI TTDH Huế

  • 7. Khai thác sử dụng thiết bị Inmarsat-C của JRC trong các trường hợp thông tin thông thường
    • Để bảo đảm yêu cầu ngày càng cao cho ngành hàng hải, hiện nay các hoạt động cung ứng dịch vụ viễn thông và thông tin hàng hải ngày càng được đổi mới theo hướng mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng. Việc đảm bảo thông tin liên lạc giữa bờ và các phương tiện hoạt động trên biển vừa đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc với người thân của các thuyền viên hoặc các thuyền viên với công ty, đại lý… vừa góp phần đảm bảo an toàn hàng hải cho mỗi con tàu trên những hải trình dài ngày.
      Trong chuyên mục an toàn giao thông trên biển trước, chúng tôi đã giới thiệu tới các bạn về cách nhận biết dòng sản phẩm thiết bị Inmarsat-C của hãng JRC, và cách sử dụng thiết bị trong trường hợp khẩn cấp. Trong chương trình hôm nay, chúng tôi sẽ tiếp tục hướng dẫn các  bước sử dụng thiết bị trong trường hợp thông tin liên lạc thông thường với bờ khi hành trình trên biển.
      Khi bạn muốn sử dụng dịch vụ Email và SMS thì cần thao tác những bước sau: 
      - Soạn bức điện với định dạng:
      + To: địa chỉ Email và/hoặc số điện thoại di động
      + Nội dung bức điện của bạn.
      - Chọn mã truy cập Đài LES trong vùng Đại dương IOR, POR, AOR-W, AOR-E 
      - Chọn mã truy cập đặc biệt SAC mà các Đài LES cung cấp ( mã truy cập của Đài Hải Phòng LES là: 330).
      - Nhấn Gửi điện.
      Để sử dụng dịch vụ Fax bạn cần:
      - Soạn nội dung bức điện cần gửi
      - Chọn số fax cần gửi với cấu trúc: Mã quốc gia + Mã Vùng + Số Fax phía bờ
      - Nhấn Gửi điện.
      Đối với dịch vụ Telex cho phép gửi thông tin tới tàu khác có trang bị thiết bị Inmarsat-C, bạn cần thực hiện các bước sau:
      - Soạn bức điện cần gửi 
      - Chọn mã Đài LES
      - Chọn/ nhập số IMN của Đài Tàu cần gửi.
      - Nhấn Gửi điện.
      Một thông tin rất hữu ích cho người đi biển đó là các bản tin An toàn hàng hải MSI được phát trên phương thức SafetyNET bao gồm bản tin dự báo thời tiết, tìm kiếm cứu nạn, cảnh báo an toàn hàng hải….. Để có thể thu được các thông tin TKCN từ dịch vụ SafetyNET một cách hiệu quả nhất, các đài tàu nên lưu ý một số quy tắc, và các thao tác chính sau đối với thiết bị thu gọi nhóm tăng cường (EGC):
      + Điều chỉnh thiết bị thu về vệ tinh và kênh phù hợp để đảm bảo thu được các thông tin an toàn hàng hải theo lịch trình;
      + Cài đặt các khu vực hàng hải NAVAREAs hoặc METAREAs và khu vực ven biển phù hợp với tuyến hành trình;
      + Đảm bảo rằng vị trí của tàu được cập nhật thường xuyên sao cho thu được các thông tin TKCN trong khu vực hành hải của tàu.
      Trên đây chúng tôi đã giới thiệu tới các bạn về cách nhận biết và cách sử dụng thiết bị thông tin Inmarsat-C của hãng JRC. Qua đây có thể thấy các thiết bị Inmarsat nói riêng và hệ thống thông tin liên lạc nói chung đã góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo an toàn giao thông trên biển, là hệ thống không thể thiếu và luôn song hành cùng người đi biển trong mỗi chuyến hải trình.
      Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp các thắc mắc, cung cấp thông tin chi tiết về các thiết bị Inmarsat của hãng JRC hiện đang được trang bị phổ biến trên tàu. Các bạn có thể liên hệ với chúng tôi vào bất cứ thời gian nào trong ngày theo địa chỉ: Đài Thông tin Vệ tinh Mặt đất Inmarsat Hải Phòng, điện thoại +84. 31. 3880114, Fax: +84. 31. 3981615, Email: hples@hples.com.vn.
      Ngô Xuân Đông – Đài Thông tin Vệ tinh mặt đất Inmarsat Hải Phòng
       
  • 8. Nhận biết và sử dụng thiết bị Inmarsat-C của hãng JRC trong tình huống khẩn cấp
    • Inmarsat-C là thiết bị thông tin di động vệ tinh ra đời năm 1993 cung cấp các dịch vụ truyền số liệu và telex hai chiều với tốc độ 600bit/s. Inmarsat-C đơn giản, giá thành rẻ với anten vô hướng, nhỏ, nhẹ, toàn bộ thiết bị có thể xách tay hoặc gắn vào bất cứ tầu thuyền nào. 
      Theo công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển SOLAS 74/88, Inmarsat-C là một thành phần của hệ thống thông tin an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu (GMDSS). Do vậy hệ thống Inmarsat-C bắt buộc phải được trang bị lắp đặt trên tất cả các phương tiện hoạt động trong vùng biển A3 (tàu chở hàng, tàu chở khách, tàu chở dầu, tàu chở container, các công trình biển như giàn khoan khai thác, giàn khoan thăm dò, các ụ chứa dầu…).
      Trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu tới bà con ngư dân và người đi biển cách nhận biết và sử dụng thiết bị trong việc gửi cuộc gọi liên quan khẩn cấp trên thiết bị Inmarsat-C của hãng JRC, một trong những thiết bị Inmarsat phổ biến trên thị trường Việt Nam cũng như trên toàn thế giới nhờ bởi độ tin cậy, chất lượng và độ bền của dòng sản phẩm này.
      Thiết bị gồm 2 phần: 
      - Phần thiết bị anten trên boong tàu:  Anten của thiết bị Inmarsat-C là loại anten vô hướng có chiều cao khoảng 25cm, đường kính khoảng 15 cm. Anten của thiết bị thường được lắp đặt cố định trên boong tầu, nơi có vị trí cao nhất của tàu nhằm đảm bảo thu được tín hiệu từ vệ tinh là tốt nhất và không bị che chắn.
      - Phần thiết bị đặt trong dưới boong tàu bao gồm:
      Khối điều khiển và thu phát: là khối có chức năng giao tiếp với ăn ten và các thiết bị khác. 
      Màn hình và bàn phím: cho phép người sử dụng thao tác sử dụng thiết bị.
      Máy in: in ra nội dung các bức điện gửi đi và nhận được.
      Bộ nguồn cung cấp: chuyển đổi nguồn điện từ xoay chiều thành một chiều cung cấp cho thiết bị.
      Nút hoặc nhóm các nút nhấn báo động cấp cứu và/ hoặc
      Nút hoặc nhóm các nút nhấn báo động an ninh 
      Thêm vào đó, trên góc trên bên trái màn hình của thiết bị thường có ghi chủng loại sản phẩm giúp bạn nhận ra chủng loại thiết bị mà bạn đang sử dụng. 
        Về chức năng gửi báo động cấp cứu, thiết bị đầu cuối Inmarsat-C được trang bị một nút báo động cấp cứu DISTRESS (hoặc nhiều nút cho một thiết bị), báo động cấp cứu được gửi một cách đơn giản bằng cách ấn nút và giữ trong một khoảng thời gian yêu cầu (khoảng 5 giây) cho đến khi có tiếng chuông báo đã gửi thành công, trên màn hình thiết bị báo gửi đã thành công.
      Tuy nhiên cần lưu ý một số điểm sau đây khi sử dụng nút báo động cấp cứu:
      - Chỉ nhấn nút cấp cứu khi khẩn cấp thực sự, khi tàu của bạn đang gặp phải nguy hiểm trầm trọng sắp xảy ra.
      - Trong khoảng thời gian 5 phút mà không nhận được xác báo của phía bờ là Trung tâm phối hợp cứu nạn (viết tắt là RCC) hoặc một Đài LES nào đó, bạn có thể nhấn tiếp báo động cấp cứu. Người sử dụng cũng có thể cài đặt, chọn đích danh một Đài LES theo mong muốn để gửi báo động cấp cứu của mình.
      - Gửi một báo động cấp cứu bằng cách ấn nút báo động chỉ gửi thông tin đã lập trình trước, đề ngày mà nó được soạn. Vì các yếu tố vị trí, đường đi và tốc độ của con tàu có thể thay đổi, thông tin gửi tới RCC phải được cập nhật bằng cách gửi báo động cấp cứu đã được cập nhật hoặc gửi một bức điện cấp cứu chi tiết hơn. 
      - Bấm nút báo động cấp cứu thì ngay lập tức báo động cấp cứu sẽ được gửi qua hệ thống Inmarsat tới một RCC, bất kể là khi đó Trạm vệ tinh mặt đất (SES) của bạn đang tiến hành chuyển điện hoặc không đăng nhập vào một vùng vệ tinh nào. Thậm chí, trạm vệ tinh mặt đất cũng có thể gửi báo động cấp cứu ngay cả khi thiết bị này chưa hoà mạng Inmarsat. 
      Một số thiết bị Inmarsat của hãng JRC khi đảm bảo về phần cứng và phần mềm thiết bị có thể được dùng để gửi thông tin khẩn cấp về an ninh. Khi cần bạn chỉ nhấn nút báo động an ninh. Trong thời gian khoảng 30 giây, thiết bị sẽ gửi thông tin về tàu của bạn gồm mã nhận dạng, vị trí thời gian bị nạn sẽ được gửi nhanh nhất về một Trung tâm An Ninh trên bờ.
      Bên cạnh các nút nhấn cho an ninh, thiết bị còn được trang bị thêm các nút nhấn báo động an ninh dành cho việc kiểm thử để kiểm tra chức năng báo động an ninh của tàu có tốt hay không. Khi muốn kiểm tra trước hết bạn gọi điện thông báo tới Trung tâm an ninh thông báo về việc dự định thử của mình về thời gian và số lần thử. Sau đó nhấn nút Test báo động an ninh. 
      Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu tới các bạn về cách nhận biết dòng sản phẩm thiết bị Inmarsat-C của hãng JRC và cách sử dụng thiết bị trong các trường hợp khẩn cấp như gửi báo động cấp cứu, gửi báo động an ninh. Chúng tôi rất mong rằng bạn biết chức năng và ứng dụng của nó nhưng không bao giờ phải sử dụng đến các chức năng khẩn cấp này trên các chuyến hành trình của bạn. Chúc các bạn luôn có những chuyến hành trình an toàn.
      Để biết thêm thông tin chi tiết về dòng thiết bị của hãng JRC, bạn có thể liên hệ với chúng tôi 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần: Đài Thông tin Vệ tinh Mặt đất Inmarsat Hải Phòng, điện thoại +84. 31. 3880114, Fax: +84. 31. 3981615, Email: hples@hples.com.vn.
      Ngô Xuân Đông – Đài Thông tin Vệ tinh Mặt đất Inmarsat Hải Phòng
       
  • 9. Tầm quan trọng của thông tin cấp cứu và cách khai thác các thiết bị thông tin vệ tinh trong tình huống tàu gặp nạn
    •  

      Sự kiện chìm tàu Vinalines Queen, gây thiệt hại nặng nề về người và phương tiện được coi là sự kiện gây chú ý nhất của ngành hàng hải trong năm 2011. Những thông tin liên tục cập nhật về con tàu đã được các ban ngành chức năng liên quan và đông đảo người dân quan tâm trong suốt một thời gian dài. 

      Việc một con tàu hiện đại như Vinalines Queen được trang bị các thiết bị thông tin liên lạc tối tân, theo quy chuẩn quốc tế mà tại sao các cơ quan chức năng lại  không thu được bất cứ thông tin cấp cứu nào từ tàu? Vị trí bị nạn do đó không thể xác định chính xác, gây khó khăn rất lớn cho công tác tìm kiếm cứu nạn. Câu hỏi này liên quan đến vấn đề khai thác và sử dụng các thiết bị thông tin được trang bị trên tàu trong tình huống nguy cấp như thế nào? 

      Thật khó có thể có được câu trả lời thấu đáo tại sao tàu lại chìm nhanh và mất liên lạc. Tuy nhiên nhiều giả thiết cũng được đặt ra. Có thể do bộ phao EPIRB bị quấn vào trong tàu không phát được (chỉ nổi lên mới phát được) hoặc do tàu chìm quá nhanh nên thuyền trưởng và thuyền viên không kịp ấn vào nút phát tín hiệu cấp cứu.

      Trong hành hải nói riêng, thông tin cứu nạn được ưu tiên hàng đầu tại các cơ quan chức năng xử lý cứu nạn, từ các thông tin này, công việc cứu nạn tàu sẽ được nhanh chóng và chính xác nhất. Do vậy, việc phát báo động cấp cứu cần nhanh chóng, chính xác, kịp thời và nó đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hỗ trợ cứu nạn tàu từ bờ. Đồng thời, các bản tin cảnh báo hàng hải, cảnh báo sóng thần, thông tin về các cuộc tập trận, về luồng lạch nguy hiểm,v.v…, được các đài thông tin phát liên tục ra tàu, đây là những thông tin thực sự cần thiết giúp tàu có thể phòng tránh tai nạn, đề phòng những tình huống xảy ra trong suốt hải trình của tàu.

      Với tầm quan trọng, tính bức thiết của vấn đề khai thác sử dụng thiết bị cứu nạn, bài viết này chúng tôi muốn đem lại cái nhìn tổng quan nhất về kiến thức sử dụng đối với các thiết bị cứu nạn sử dụng thông tin vệ tinh thuộc chuẩn GMDSS cho người đi tàu.

      Các thiết bị thông tin vệ tinh trang bị trên tàu theo chuẩn GMDSS bao gồm: Inmarsat-C, Inmarsat mini-C, Imarsat-B, Inmarsat F77, Phao định vị vị trí EPIRB. Inmarsat-C và Inmarsat mini-C đây là 2 thiết bị rất quen thuộc thường được lắp đặt ngay trên buồng điều khiển, vị trí lắp đặt này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thao tác vận hành sử dụng. Trên mặt các thiết bị đều có hướng dẫn cách gửi thông tin cứu nạn về bờ trong trường hợp khẩn cấp, chỉ cần nhấn và giữ các phím được chỉ dẫn trong 5 giây thông tin cấp cứu sẽ được chuyển ngay về bờ. Thông tin cấp cứu có thể soạn trước khi gửi hoặc trong trường hợp khẩn cấp chỉ cần nhấn phím, thông tin cứu nạn cần thiết cũng sẽ được gửi ngay về bờ. Ngoài ra, thiết bị này còn thu các bức điện cảnh báo được phát trực tiếp từ các Đài bờ. Các cảnh báo bao gồm: cảnh báo sóng thần, cảnh báo nguy hiểm về luồng lạch, cảnh báo về bão lốc, dự báo thời tiết biển ở các vùng biển thuộc việt nam, thông tin cấp cứu khẩn cấp…Các thông tin này cực kỳ quan trọng, nó giúp tàu phòng tránh được các nguy hiểm trên hải trình của mình. Đồng thời, trợ giúp tàu khác gặp nạn ở gần vị trí tàu mình. Các đài bờ sẽ phát thông tin về cảnh báo an toàn hành hải theo chu kỳ thời gian, riêng thông tin trợ giúp tàu bị nạn sẽ được phát ngay khi nhận được thông báo cấp cứu từ tàu bị nạn và chỉ dừng lại khi tàu bị nạn đó đã an toàn.

      Thiết bị Inmarsat-B thông tin cứu nạn sử dụng dịch vụ thoại và telex nhưng hiện nay dịch vụ telex đã ngừng sử dụng. Inmarsat F77 cũng sử dụng thông tin cấp cứu bằng thoại. Khi tàu gặp nguy hiểm, người sử dụng chỉ cần nhấn nút báo động cấp cứu trên thiết bị Inmarsat-B và F77 trong 05 giây. Ngay lập tức, một kênh thông tin thoại cấp cứu được thiết lập nối giữa tàu và bờ. Do phương thức thoại cho nên việc thông tin sẽ được nhanh chóng, chính xác phục vụ cho công tác cứu nạn tiếp theo.

      Ngay khi các Đài bờ nhận được thông tin cấp cứu từ tàu, thông tin này sẽ được chuyển ngay lập tức tới các Trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia của các Đài bờ mà thiết bị đã chọn để sử dụng. Khi xác nhận chính xác thông tin, các phương án cứu nạn sẽ được diễn ra ngay sau đó như  điều động các thiết bị cứu nạn ra tàu, phát cảnh báo cứu nạn cho các tàu ở gần vị trí tàu bị nạn…đảm bảo việc cứu nạn là nhanh nhất, hiệu quả nhất. Đối với vị trí tàu gặp nạn ngoài lãnh thổ Việt nam, Trung tâm tìm kiếm cứu nạn của Việt Nam sẽ liên hệ trực tiếp với Trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia mà tàu bị nạn tại đó trực tiếp cứu nạn.

      Riêng đối với thiết bị định vị vị trí bằng vô tuyến, phao EPIRB, thiết bị này thường được lắp đặt trên 2 mạn tàu. Thiết bị có 2 cơ chế hoạt động. Cơ chế hoạt động tự động và nhân công. Đối với chế độ tự động, khi chịu tác động của áp lực nước ở độ sâu khoảng 4 m thiết bị sẽ tự động phát tín hiệu lên vệ tinh. Ở chế độ nhân công, người sử dụng có thể tự kích hoạt cho thiết bị hoạt động. Thông tin gửi về từ thiết bị này là mã nhận dạng tàu, vị trí, thời gian phát, người sử dụng có thể mang theo nó trên người sẽ giúp cho công tác tìm kiếm cứu nạn được chính xác.

      Trong các thiết bị trên đây, Inmarsat-C và EPIRB là 2 thiết bị bắt buộc và tối thiểu được trang bị trên tàu. Do vậy, khi tàu gặp nguy hiểm, phát thông tin cấp cứu từ các thiết bị thông tin liên lạc là những việc làm ưu tiên hàng đầu trong quá trình xử lý tình huống nguy cấp trên tàu. Và bất cứ thành viên nào trên tàu cũng có thể dễ dàng kích hoạt chế độ báo động cấp cứu.

      Trong những năm gần đây, những vụ tai nạn trên biển đã liên tiếp xảy ra, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Nạn cướp biển hoành hành, sóng thần, bão gió, công tác an toàn giao thông trên tàu vẫn còn hạn chế…. Nhằm giảm thiểu tối đa sự thiệt hại, bài viết này rất mong muốn đem lại cho những người có trách nhiệm, người đang thực hiện công việc liên quan hoặc bất cứ ai trên tàu có thêm kiến thức về sử dụng các phương tiện liên lạc và dễ dàng trong thao tác sử dụng các thiết bị này trong xử lý tình huống bị nạn khi hành trình trên biển. 

      Để tìm hiểu chi tiết hơn về công dụng cũng như cách sử dụng của các thiết bị viễn thông vệ tinh, vui lòng Quý vị xin gọi về tổng đài kỹ thuật của Hải Phòng LES theo số điện thoại 0084.31.3880114 nhánh 1 hoặc địa chỉ email les_support@hples.com.vn. Chúng tôi rất hân hạnh được trợ giúp Quý vị và các bạn.

      Phạm Phú Lợi – Đài Thông tin Vệ tinh Mặt đất Inmarsat Hải Phòng

       

       

  • 10. Tàu thuyền đánh bắt hải sản cần đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trên biển trong mùa mưa bão
    • Nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam là một trong những quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa với thời tiết rất khắc nghiệt và bất thường. Các hiện tượng thời tiết như bão, áp thấp nhiệt đới…luôn xảy ra gây thiệt hại lớn cho ngư dân. Một trong những nguyên nhân gây thiệt hại về người và tài sản do bão, áp thấp…  gây ra là việc thông tin liên lạc giữa đất liền với biển còn bất cập.
      Cũng vì kế mưu sinh mà rất nhiều ngư dân bất chấp thời tiết khắc nghiệt, mưa giông, gió bão ngày càng đánh bắt xa bờ, chủ quan, lơ là không chú trọng đến việc trang bị đầy đủ các thiết bị an toàn (bộ đàm, đèn báo hiệu, la bàn, cờ hiệu, định vị, hải đồ…) cho người và tàu để phòng tránh tai nạn đáng tiếc xảy ra.
      Theo thông tư số 15/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 29 tháng 03 năm 2011 thì : Để đảm bảo an toàn cho tàu cá có lắp máy công suất từ 20 CV trở lên hoặc không lắp máy chính có chiều dài đường nước thiết kế từ 15m trở lên khi tham gia các hoạt động khai thác thủy hải sản trên biển, ngoài việc các tàu cá phải trang bị đầy đủ các thiết bị thông tin để tiếp nhận tin cảnh báo, dự báo thiên tai và các thiết bị an toàn khác theo quy định cho thuyền viên thì còn phải nghiêm chỉnh chấp hành việc duy trì trực canh liên tục trên các tần số gọi cấp cứu, thông tin cảnh báo khí tượng, cảnh báo hàng hải và những thông tin khẩn cấp khác ở những dải tần số cố định do các Đài thông tin duyên hải hoặc các Đài tàu khác cung cấp. Để kịp thời  đối phó, xử lý các tình huống xảy ra trên biển nhằm hạn chế, giảm nhẹ thiệt hại thì các chủ phương tiện cần lưu ý về chế độ thông tin như sau:
      Trong điều kiện thời tiết bình thường, các tàu phải: Duy trì chế độ trực canh tự động 24/24 giờ trong ngày, đối với các thiết bị: Thu thoại đơn biên trên tần số 7906 kHz để tiếp nhận các bản tin do Hệ thống Đài thông tin duyên hải Việt Nam phát. Đối với các tàu cá hoạt động từ vùng biển A2 trở ra phải thu, phát thoại đơn biên sóng ngắn (HF) trên tần số 7903 kHz của Hệ thống Đài thông tin duyên hải Việt Nam. Giữ liên lạc và báo cáo ít nhất ba ngày một lần cho Bộ đội Biên phòng tỉnh về vị trí tàu, số lượng lao động, tình trạng tàu cá hoạt động trên biển, thành viên của tổ mình và tình hình an ninh trên vùng biển đang hoạt động trên tần số sóng ngày 9339 kHz và sóng đêm 6973 kHz.
      Khi có áp thấp nhiệt đới, bão xa hoặc tin thời tiết nguy hiểm trên biển: ngoài việc phải duy trì trực canh như trong điều kiện thời tiết bình thường, các tàu phải thường xuyên theo dõi các bản tin dự báo áp thấp nhiệt đới, bão xa hoặc thời tiết nguy hiểm trên biển qua các phương tiện, hệ thống thông tin. Các tàu cá phải liên hệ chặt chẽ với các phương tiện khác hoạt động trên biển trong tổ và các tàu cá hoạt động trên biển gần nhất để chủ động phối hợp phòng tránh. Các tàu cá hoạt động từ vùng biển A2 trở ra phải thực hiện chế độ báo cáo ít nhất hai lần trong ngày, mỗi lần cách nhau 12 giờ, trên tần số sóng ngày 9339 kHz, trên tần số sóng đêm 6973 kHz cho đài trực canh Bộ đội Biên phòng tỉnh hoặc đài trực canh của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản địa phương về vị trí tàu, số lượng lao động, tình trạng tàu cá.
      Khi bão gần, bão đã vào Biển Đông: Các tàu cá phải nghiêm túc duy trì chế độ trực canh 24/24h như trong điều kiện thời tiết bình thường trên các tần số 7903Khz và 7906 Khz để thu nhận các bản tin cảnh báo thiên tai. Ngoài ra đối với các tàu cá hoạt động từ vùng biển A2 trở ra phải thực hiện chế độ báo cáo ít nhất ba lần trong ngày, mỗi lần cách nhau 8 giờ trên tần số sóng ngày 9339 kHz, sóng đêm 6973 kHz, cho đài trực canh gần nhất của Bộ đội Biên phòng hoặc đài trực canh của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản địa phương  về vị trí tàu, số lượng lao động, tình trạng tàu cá. Các tàu cá phải thông báo kịp thời cho các tàu cá khác đang hoạt động trong khu vực và phải nghiêm túc chấp hành lệnh của cơ quan quản lý nhà nước trong bờ khi gọi, yêu cầu tàu cá vào bờ hoặc hướng dẫn tìm nơi trú ẩn.
      Khi tàu cá đang trong vùng ảnh hưởng của bão: Ngoài việc duy trì chế độ trực canh như trong điều kiện thời tiết bình thường, các tàu cá hoạt động từ vùng biển A2 trở ra phải giữ liên lạc liên tục 24/24 giờ trong ngày với Đài của Bộ đội Biên phòng trên tần số sóng ngày 9339 kHz, sóng đêm 6973 kHz, Hệ thống Đài thông tin duyên hải Việt Nam trên tần số 7903 kHz và các tàu cá gần nhất về vị trí tàu cá của mình đang hoạt động và phát tín hiệu cấp cứu khi phương tiện bị nạn.
      Khi bão tan: Ngoài việc duy trì chế độ trực canh như trong điều kiện thời tiết bình thường, các tàu cá hoạt động trong vùng biển từ A2 trở ra phải sử dụng mọi biện pháp có thể thông báo cho Bộ đội Biên phòng nơi gần nhất, Uỷ ban nhân dân các xã phường, thị trấn nơi cư trú hoặc chính quyền địa phương nơi tàu đang trú ẩn về:  vị trí, tình trạng người và tàu cá của mình, đồng thời duy trì liên lạc liên tục 24/24 giờ với Đài của Bộ đội Biên phòng tỉnh trên tần số sóng ngày 9339 kHz, sóng đêm 6973 kHz, Hệ thống Đài thông tin duyên hải Việt Nam trên tần số 7903 kHz để tham gia điều động cứu nạn, cứu hộ nếu có người hay phương tiện gặp nạn.
      Khi phát hiện có hiện tượng thiên tai trên biển, thông báo ngay cho Hệ thống Đài Thông tin duyên hải Việt Nam và hệ thống thông tin của Bộ đội Biên phòng để các cơ quan chỉ đạo phòng, chống thiên tai đề ra những biện pháp xử lý kịp thời. 
      Khi tàu cá hoạt động trên biển bị tai nạn: 
      - Đối với trường hợp tàu cá của mình (hoặc tàu  cá trong Tổ) bị tai nạn cần sự giúp đỡ, cứu hộ, cứu nạn phải kịp thời thông báo cho các tàu cá nơi gần nhất và đồng thời thông báo cho Hệ thống Đài thông tin duyên hải Việt Nam trên tần số 7903kHz hoặc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng trên tần số sóng ngày 9339 kHz, sóng đêm 6973 kHz về vị trí tàu cá của mình đang hoạt động và có biện pháp ứng phó kịp thời.
      - Đối với trường hợp phát hiện tàu cá khác bị nạn, phải đưa tàu đến hỗ trợ ứng cứu kịp thời và nhanh chóng thông báo cho các tàu cá, các đài thuộc Hệ thống Đài thông tin duyên hải Việt Nam hoặc các đài thuộc Bộ đội Biên phòng nơi gần nhất biết để cùng hỗ trợ và phải chấp hành sự chỉ đạo, điều động của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền về tìm kiếm cứu nạn trên biển.
      Hệ thống đài Thông tin duyên hải Việt Nam với quy mô 32 đài Thông tin duyên hải trải dài từ Móng Cái đến Cà Mau luôn duy trì trực canh 24/24h hàng ngày trên tần số 7903 kHz để tiếp nhận các thông tin về yêu cầu trợ giúp tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu khẩn cấp từ các tàu cá hoạt động trên biển. Ngoài ra hệ thống còn cung cấp, cập nhật liên tục các bản tin cảnh báo khí tượng -  thời tiết biển hàng ngày, cảnh báo thiên tai như : cảnh báo bão, áp thấp nhiệt đới, tin thời tiết nguy hiểm như : gió mạnh, sương mù, không khí lạnh tăng cường, các bản tin cảnh báo hàng hải, thông tin tìm kiếm cứu nạn…trên tần số 7906Khz đối với phương thức thoại và trên tần số 490kHz, 4209.5kHz cho phương thức Navtex. Để đảm bảo an toàn cho mỗi chuyến ra khơi của mình đề nghị bà con ngư dân luôn thường xuyên giữ liên lạc với hệ thống Đài Thông tin duyên hải Việt Nam để được hướng dẫn và trợ giúp.
      Vũ Bích Thủy (Phòng Khai thác)
  • 11. Cứu người bị nạn – Trách nhiệm không của riêng ai
    • Tính đến hết năm 2011, cả nước ta đã có hơn 130.000 tàu cá. Nếu như cả 130.000 phương tiện này hoạt động, cả nước sẽ có hàng triệu người mưu sinh, khai thác lợi ích từ kinh tế biển. Song biển cả mênh mông vẫn luôn nhiều hiểm họa, sinh mạng và tài sản của ngư dân luôn tiềm ẩn những hiểm nguy bất cứ lúc nào hay bất cứ khi nào.
      Khó khăn, gian nguy trên biển là vậy nhưng khi tàu gặp sự cố, công tác cứu nạn trên biển lại hết sức khó khăn vì hầu hết những vụ cứu nạn từ trước đến nay diễn ra trong điều kiện sóng to gió lớn, đêm tối, sương mù, tầm nhìn hạn chế… và quan trọng hơn cả là thường ở những khu vực rất xa đất liền.
      Trên thế giới, công tác cứu nạn chủ yếu dựa vào sự trợ giúp tại chỗ của các tàu hoạt động trên biển. Thực tế,  khi có tàu ngư dân bị nạn trên biển, nếu điều động tàu cứu hộ, cứu nạn SAR của Trung tâm Phối hợp TKCN hàng hải hay tàu của lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển từ trong bờ ra cứu thì có lần phải mất hàng chục giờ, tốn kém tới vài trăm triệu đồng. Nhưng nếu huy động 3 - 4 tàu cá khác đang hoạt động gần đó đến cứu người, kéo tàu thì vừa kịp thời mà phí tổn chỉ bằng 1/10, thậm chí 1/100. Việc sử dụng nguồn lực tại chỗ bao giờ cũng thuận lợi, tiết kiệm và hiệu quả hơn nhiều lần. Khi có tình huống tai nạn xảy ra tại khu vực đó, mặc dù trách nhiệm nhân đạo là mọi tàu thuyền phải tham gia cứu nạn, đảm bảo an toàn sinh mạng con người trên biển nhưng không phải khi nào họ cũng tự giác để thực hiện nhiệm vụ nhân đạo này.
      Vì mục tiêu nhân đạo cứu người bị nạn, đồng thời nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong công tác TKCN trên biển, tại Điều 11, Chương II, Quyết định 103/2007/QĐ-TTg về Quy chế phối hợp tìm kiếm cứu nạn của Chính phủ đã qui định rõ trách nhiệm của thuyền trưởng phương tiện hoạt động trên biển phải: 
      - Tham gia cứu người bị nạn trên biển khi phát hiện hay nhận được tín hiệu cấp cứu - khẩn cấp gần khu vực đang hoạt động, nếu không mất an toàn cho người, phương tiện của mình;
      - Tham gia hỗ trợ, cứu hộ phương tiện gặp nạn theo quy định;
      - Chấp hành lệnh điều động tham gia tìm kiếm, cứu nạn khi được cơ quan có thẩm quyền về tìm kiếm, cứu nạn trên biển huy động.
      Để có thể huy động lực lượng này tham gia TKCN, tàu gặp nạn phải phát tín hiệu theo quy định để thông báo cho các tàu đang hoạt động, hành trình biết đến hỗ trợ hoặc cứu nạn. Tàu bị nạn phát tín hiệu trực tiếp để các tàu hoạt động gần mình biết, Đài thông tin Duyên hải nhận được tín hiệu báo nạn. Trong trường hợp không kịp phát tín hiệu nếu trên tàu có trang bị các thiết bị tự động báo động, các thiết bị này sẽ tự kích hoạt hoặc do người trên tàu bật khởi động... Đài thông tin Duyên hải nhận được tín hiệu cấp cứu sẽ chuyển tiếp ngay đến trung tâm TKCN chịu trách nhiệm để lên phương án ứng phó đồng thời cho phát thông báo Hàng hải trên tần số quy định để huy động các tàu xung quanh đến cứu. Các tàu đang hoạt động, hành trình trên biển gần khu vực bị nạn phải trực canh trên tần số báo nạn mới tiếp nhận được thông tin có tàu gặp nạn và tọa độ, tình hình bị nạn, như trên đã bị trình bày, nếu các tàu cá không thường xuyên trực canh trên tần số theo quy định hoặc chỉ mở ở tần số khác để liên lạc về bờ thì không thể biết được. Đây cũng là lý do các tàu cần phải trang bị đủ thiết bị thông tin liên lạc trên tàu và phải chấp hành nghiêm qui định duy trì chế độ trực canh tự động 24/24 h.
      Hoạt động tìm kiếm cứu nạn nói chung và tìm kiếm cứu nạn trên biển là hoạt động mang tính nhân đạo đòi hỏi sự tham gia của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, mang tính tự nguyện, tự giác và chủ động thì mới đạt hiệu quả cao và kịp thời. Có những tàu đã bỏ cả chuyển biển hàng trăm triệu đồng để cứu giúp người bị nạn bởi tiền bạc dù bao nhiêu đi nữa, vẫn không thể đánh đổi mạng sống của con người. Chính tấm lòng đôn hậu, sự yêu thương, quý trọng sinh mệnh con người của bà con ngư dân đã giành lại sự sống cho rất nhiều người bị nạn trên biển. Sau bộ quần áo lấm lem của những ngư dân vừa từ biển khơi trở về là sức mạnh của những trái tim nhân ái không bến bờ.
      Vũ Bích Thủy - Phòng Khai thác
  • 12. Hướng dẫn sử dụng và cách khắc phục sự cố trên thiết bị AT-130
    • Ngày nay, việc trang bị các thiết bị thông tin liên lạc trở nên rất cần thiết cho mọi phương tiện hoạt động trên biển. Một trong những thiết bị thông tin liên lạc được dùng phổ biến nhất hiện nay là máy thu/phát MF/HF ICOM-718, đi đôi với máy thu/ phát MF/HF là thiết bị phối hợp trở kháng với anten AT-130 mà bà con ngư dân thường gọi là hộp phối. 
      AT-130 là thiết bị sau khi được kết nối với máy thu/phát sẽ tự động dò tìm vị trí phối hợp trở kháng giữa máy với anten tốt nhất và sẽ lưu lại vị trí này cho những lần sau.
      Nhằm giúp cho bà con ngư dân yên tâm trong việc sử dụng thiết bị đảm bảo thông tin liên lạc liên tục và kéo dài độ bền thiết bị, chúng tôi xin hướng dẫn bà con ngư dân cách sử dụng, bảo quản và cách khắc phục các sự cố cơ bản thường xuyên xảy ra trên thiết bị AT-130.
      1. Hướng dẫn sử dụng thiết bị AT-130:
      AT-130 là thiết bị hỗ trợ cho máy thu phát MF/HF, nhưng không kém phần quan trọng trong mỗi chuyến ra khơi. Với những AT tự chế thì mỗi khi chuyển kênh/ tần số trên máy MF/HF bà con ngư dân phải điều chỉnh theo kiểu “nhân công”, vừa phát vừa điều chỉnh các nút  xoay mới lựa chọn được vị trí phối hợp anten được tốt, trong khi AT-130 chỉ cần cài đặt kênh/tần số trên máy MF/HF và nhấn nút “tune” trên máy MF/HF thì AT-130 tự động dò tìm vị trí phối hợp giữa máy với anten tốt nhất, và nhớ vị trí đó cho những lần sau khi gặp lại kênh/tần số này thì AT-130 sẽ chuyển đến vị trí đó ngay mà không cần dò tìm nữa. Sau đây là cách sử dụng và cách khắc phục một số sự cố cơ bản thường gặp đối với AT-130.
      Vì AT-130 là thiết bị hỗ trợ cho máy thu/phát MF/HF nên bà con ngư dân không cần cài đặt ban đầu, mà chỉ cần đấu nối với máy thu/ phát theo các bước sau:
      1. Trước tiên bà con ngư dân nên kết nối anten vào AT-130, và dây “tiếp mát” từ AT-130 vào sườn tàu để phòng ngừa sét đánh hỏng thiết bị và giảm thiểu can nhiễu.
      2. Kết nối dây phi đơ từ AT-130 vào jack anten của máy MF/HF.
      3. Kết nối dây điều (đầu jack dẹp có 4 dây điện) từ AT-130 vào máy.
      4. Sau khi đã kết nối đầy đủ các bước trên chúng ta mới tiến hành khởi động máy thu/ phát MF/HF.
      (Nếu bà con ngư dân sử dung AT tự chế thì chỉ cần thực hiện bước 1 và 2 là có thể khởi động máy thu/phát MF/HF).
      2. Cách bảo quản, bảo dưỡng thiết bị:
      - Vùng hoạt động của thiết bị trên biển nhiều sóng, gió và hơi nước mặn nên bà con ngư dân nên lắp đặt cố định thiết bị nơi khô ráo, tránh va đập. 
      - Sau khi kết thúc mỗi chuyến ra khơi bà con ngư dân cần vệ sinh thiết bị sạch sẽ hạn chế hơi nước biển oxy hóa.
      - Nếu thấy bề mặt ngoài của thiết bị bị oxy hóa nhiều và có khả năng ảnh hưởng đến các vi mạch bên trong thì ngư dân nên đem đến nơi cung cấp thiết bị hoặc trung tâm bảo hành để vệ sinh, đo kiểm lại các thông số của thiết bị.
      3. Các sự cố cơ bản thường xảy ra khi bà con ngư dân ra khơi và cách khắc phục:
      - Máy không Tune được: đối với AT-130 chúng ta thường gặp sự cố sau:
      * Trường hợp 1: Khi nhấn tune, phối vẫn chạy bình thường nhưng máy thu/phát vẫn không nhận thấy được phối và máy không thể phát được. 
      Trước tiên bà con ngư dân hãy kiểm tra, vệ sinh điểm kết nối giữa dây anten với AT-130. 
      * Trường hợp 2: Sau khi đã kết nối đầy đủ các bước như phần trên mà máy không tune được. 
      Bà con tắt máy và kiểm tra và vệ sinh lại jack điều khiển (jack dẹp có 4 dây điện kết nối giữa phối với máy thu/phát).
      Trên đây là một số điều cơ bản trong việc sử dụng, bảo dưỡng và khắc phục sự cố cơ bản thường gặp nhằm giúp bà con ngư dân khi ra khơi đảm bảo thông tin liên lạc không bị gián đoạn.
       
      Nguyễn Văn Tân - Đài TTDH Phú Yên
  • 13. Sẵn sàng cho chiến dịch kiểm tra hệ thống cháy nổ tàu thuyền
    • Trong những năm gần đây, tình trạng tàu thuyền Việt Nam hoạt động trên các tuyến vận tải biển quốc tế bị chính quyền cảng (PSC: Port State Control) nước ngoài kiểm tra, bắt giữ vì vi phạm quy định các công ước quốc tế về hàng hải đã xảy ra khá nhiều. Điều này không chỉ làm mất uy tín của các tàu thuyền Việt Nam mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới việc khai thác, làm suy giảm nền kinh tế vận tải biển nói chung. Việc vi phạm các quy định này xảy ra phổ biến ở các nội dung như gây ô nhiễm môi trường, trang bị chưa đầy đủ hệ thống thiết bị an toàn, … trong đó đặc biệt phải kể đến hệ thống phòng chống cháy nổ trên tàu.
      Để siết chặt hơn nữa việc thực thi các quy định quốc tế, theo thông tin từ Cục Đăng kiểm Việt Nam, chiến dịch kiểm tra tập trung của các Chính quyền cảng thành viên khu vực Ấn Độ Dương (Indian Ocean MOU) về bố trí các hệ thống an toàn chống cháy trên tất cả các tàu thuyền sẽ diễn ra từ ngày 01 tháng 09 đến ngày 30 tháng 11 năm 2012. Indian Ocean MOU sẽ tiến hành đồng thời chiến dịch kiểm tra này cùng với các thành viên của chính quyền cảng khu vực Tây Âu - Bắc Đại Tây Dương (Paris MOU) và khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Tokyo MOU).
      Chính quyền cảng các quốc gia tham gia Bản ghi nhớ về hợp tác kiểm tra của Chính quyền cảng khu vực khác trên thế giới cũng có thể tiến hành Chiến dịch kiểm tra có cùng nội dung trong cùng thời gian nêu trên.
      Yêu cầu đặt ra cho các tàu thuyền trong chiến dịch lần này là phải đảm bảo tuân thủ theo quy định trong Chương II-2 của Công ước quốc tế về An toàn Sinh mạng trên biển (SOLAS 1974) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2002 về bố trí chống cháy, phát hiện cháy và dập cháy; các thiết bị chữa cháy trên tàu luôn đảm bảo sẵn sàng và có thể sử dụng bất kỳ khi nào xảy ra sự cố cháy nổ;  thuyền trưởng và thủy thủ trên tàu đã được tập huấn và phải sử dụng thành thạo các thiết bị.
      Ngoài ra, các tàu thuyền cũng phải đảm bảo theo Quy định 1/4 & 1/14 của Tiêu chuẩn STCW về chứng nhận Đào tạo và trực ca cho thuyền viên và Quy định tại PSCC 43/2010/24 về việc hướng dẫn chữa cháy, rời bỏ tàu và kiểm soát thiệt hại trong suốt một cuộc điều tra chính quyền Cảng. 
      Các cán bộ của chính quyền cảng sẽ đưa ra các danh mục quy định thẩm tra bao gồm: kế hoạch kiểm soát cháy nổ; bộ trang bị cá nhân cho người chữa cháy; thiết bị thở khi thoát hiểm; bình cứu hỏa xách tay; phương tiện báo động âm thanh và ánh sáng; tình trạng sử dụng của hệ thống và trang thiết bị bảo vệ chống cháy và chữa cháy; kế hoạch bảo dưỡng hệ thống và trang thiết bị; nơi bố trí và cách sử dụng các hệ thống và trang thiết bị bảo vệ chống cháy và chữa cháy; việc kích hoạt hệ thống phun nước áp lực chữa cháy tại khu vực được bảo vệ; việc kích hoạt cảm biến báo cháy tự động hoặc nhân công tạo ra tín hiệu báo động bằng âm thanh và ánh sáng trên buồng lái hoặc trạm điều khiển chữa cháy; phương tiện chiếu sáng trong các lối thoát nạn, gồm cả hệ thống chiếu sáng ở vị trí thấp; hoạt động của bơm cứu hỏa sự cố; việc đánh dấu, bảo dưỡng và vận hành van cách ly của hệ thống đường ống nước cứu hỏa; việc huấn luyện và thực tập cứu hỏa,… 
      Tùy theo mức độ vi phạm của tàu thuyền, chính quyền cảng sẽ có các biện pháp xử phạt khác nhau, nặng nhất có thể sẽ bị lưu giữ cho đến khi tàu thuyền được bổ sung đầy đủ các hạng mục theo yêu cầu.  
      Điều quan trọng ở đây là nhận thức của các chủ tàu/ đại lý tàu cũng như các thuyền viên về các vấn đề liên quan đến an toàn cháy nổ, đôi khi vì những lợi nhuận trước mắt mà lãng quên sự an toàn của chính bản thân và con tàu.
      Trước và trong mỗi chuyến hành hải, hãy tự nâng cao nhận thức và chuẩn bị sẵn sàng để đảm bảo an toàn sinh mạng cho chính mỗi chúng ta.
       
      Lược dịch: Vũ Phương Nhung - Phòng Khai thác
  • 14. Kinh nghiệm rời tàu cùng phao/ bè cứu sinh
    • Ở bài viết trước, chúng tôi đã cung cấp một số kinh nghiệm sống sót trên biển trong trường hợp người đi biển buộc phải rời tàu khi tàu gặp sự cố. Đó là những hướng dẫn giữ nhiệt độ cơ thể dưới nước, cách tận dụng sóng để bảo toàn sức khi bơi… Tuy nhiên, cho dù bạn là một tay bơi cự phách thì vẫn cần có phao hoặc bè cứu sinh để duy trì sức lực, kéo dài thời gian sinh tồn trên mặt nước. Vậy sử dụng phao/bè cứu sinh ra sao cho hiệu quả, nếu không có thì tự làm phao/bè thế nào, hay cách tồn tại trên phao/ bè để chờ đợi phương tiện tới cứu… Những kinh nghiệm xử lý tình huống trên sẽ tiếp tục được giới thiệu tới bà con ngư dân trong bài viết này.
      Phao cứu sinh có nhiều loại, nhiều kiểu khác nhau: có loại thổi khí bằng miệng, có loại sử dụng hơi nén (chỉ cần giật mạnh chốt bình khí nén là phao tự phồng lên), có loại làm bằng những vật liệu mà tự thân nó đã có một lực nổi nhất định. Khi gặp tình huống nguy hiểm, lập tức thông báo cho mọi người trên tàu biết để mang phao cứu sinh. Những người biết bơi nên sử dụng loại phao hỗ trợ, tuy lực nổi thấp, nhưng tiện cho việc thao tác trong khi bơi lội.
      Nếu thiếu phao cứu sinh, những người biết bơi nên tự tìm hay chế tạo cho mình những chiếc phao cứu sinh bằng cách tìm những thùng rỗng, can rỗng, túi nylon, các vật liệu xốp, nhẹ, có độ nổi cao... dùng dây cột lại với nhau. Cũng có thể thổi nhiều túi nylon nhỏ, cho vào hai ống quần rồi cột túm lại. Khi sử dụng loại phao này, không được nhảy mạnh xuống nước vì lực va đập sẽ làm vỡ túi khí, phao sẽ mất tác dụng.
      Với bè cứu sinh, các bạn nên chuẩn bị cho mỗi bè một số thức ăn, nước uống và dụng cụ mưu sinh như: vũ khí, đèn pin, hỏa pháo, kính phản chiếu, pano màu, dao, mái chèo, thuốc cấp cứu,... và một sợi dây dài cột sau bè cứu sinh, để nhỡ có người rơi xuống nước thì họ có thể bám vào đó để cho chúng ta kéo lên.
      Khi hạ bè cứu sinh, để đảm bảo an toàn và hiệu quả cao, người đi biển cần lưu ý:
      - Nếu bè cứu sinh được làm bằng gỗ hay sợi thủy tinh, khi sử dụng, phải thả từ từ xuống biển. 
      - Nếu bè cứu sinh được làm bằng cao su thổi khí (thường là khí nén) thì có thể ném thẳng xuống biển. Nhưng trước khi ném, cần có một sợi dây dài buột bè với tàu đề phòng khi ném xuống nước, vì nhẹ nên dễ bị gió thổi trôi đi.
       Sau khi hạ bè cứu sinh xuống nước, cần cử hai người khỏe mạnh, bơi lội giỏi, một người leo lên bè và một người bơi chung quanh bè để giúp đỡ những người khác leo lên. Nếu số lượng người nhiều hơn tải trọng của bè cứu sinh những người bơi lội giỏi nên mang phao cứu sinh và bơi theo bè, nếu mệt thì bám nhẹ vào mạn bè. Sau khi lên bè, tuyệt đối tuân theo sự hướng dẫn của các thủy thủ, ở đâu thì ngồi yên đó, không được chen lấn, chạy tới chạy lui, chồm ra mạn bè...
      Nếu trước đó, tàu đã kịp phát tín hiệu cầu cứu thì những toán cứu hộ sẽ đến và họ sẽ ưu tiên lùng sục khu vực bị tai nạn trước tiên, cho nên sau khi lên bè, các bạn không nên chèo bè đi quá xa mà nên thả chập chờn chung quanh khu vực tai nạn, trừ khi các bạn biết hướng vào đất liền hay hải đảo hoặc nhìn thấy các ánh đèn (nếu là ban đêm). Cần cắt cử người luôn luôn quan sát trên không cũng như trên biển, nếu thấy bóng dáng của máy bay hay tàu thuyền, lập tức phát tín hiệu cầu cứu. Nếu trời nắng tốt, thì gương phản chiếu hay một miếng kim khí đánh bóng là hiệu quả nhất, nếu không có thì dùng khói, khói màu, vải màu sáng... thu hút sự chú ý của các phương tiện khác. Ban đêm có thể dùng lửa hay hỏa pháo phát sáng.
      Để tồn tại trên bè, mọi người nên làm theo những hướng dẫn sau:
      - Cột chặt các vật dụng mà các bạn đang có trên bè, để khỏi bị sóng đánh hay lật bè làm rơi mất.
      - Giữ khô quần áo, mang vớ và găng tay, che tất cả những nơi cơ thể tiếp xúc với ánh nắng nếu có thể, vì sức nóng của mặt trời có thể đốt phồng da các bạn. Áo quần khô ráo cũng là điều cần thiết giúp chúng ta chống lại với cái lạnh, nhất là về ban đêm.
      - Tận dụng bóng mát của buồm hay các vật liệu khác để che nắng, cố gắng làm giảm tối thiểu việc tiếp xúc với ánh nắng, vì rất dễ làm cơ thể các bạn mất nước.
      - Kiểm kê toàn bộ lương thực và nước uống, cất giữ một nơi an toàn và thoáng mát, hạn chế ăn uống trong 24 giờ đầu. 
      - Người đi biển có thể lênh đênh trên biển nhiều ngày, cho nên cần phải giữ gìn sinh lực, tránh những hoạt động làm đổ mồ hôi và tiêu hao năng lượng.
      Khi di chuyển bằng bè, bà con ngư dân và người đi biển cần phải chọn lựa một trong hai phương pháp di chuyển: Hoặc là xuôi theo chiều gió, hoặc là nương theo các dòng hải lưu. Gió và hải lưu ít khi nào chuyển động theo cùng một hướng, thường thì một thuận và một thì ngược lại. Mọi người cần trang bị  một số kiến thức về gió và hải lưu, biết vị trí (tương đối) của mình, biết hướng mình cần đi, biết gió hay hải lưu sẽ đưa mình đến đâu. Trường hợp các bạn đang ở trong tình thế khó khăn, bè không thể nương theo gió hay dòng hải lưu để di chuyển, hãy cố gắng bảo quản và hạn chế khẩu phần lương thực cũng như nước uống, để duy trì sự sống càng lâu càng tốt.
      Và cuối cùng, điều quan trọng nhất là phải biết đoàn kết, động viên, an ủi và quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Có như thế mới có thể vượt qua mọi gian lao để cùng nhau sống sót. Chúc bà con ngư dân và người đi biển luôn gặp may mắn khi ra khơi.
      Tổng hợp thông tin: Phan Minh Hương - Phòng Khai thác
  • 15. Hệ thống Đài Thông tin Duyên hải - Người bạn đường tin cậy của ngư dân
    • Hôm ấy, thời tiết diễn biến xấu do ảnh hưởng của thời tiết nguy hiểm, tổ khai thác Đài TTDH Phú Yên đang trực canh thì nhận được tin báo, tàu cá PY 96265 TS cùng 8 ngư dân - chủ tàu Nguyễn Thị Tường Vi do anh Phan Trực làm thuyền trưởng, hành nghề câu cá ngừ đại dương khi đang hoạt động trên biển tại vị trí 13.02N; 112.4E thì tàu bị hư hộp số, trôi dạt tự do trên biển trong điều kiện thời tiết xấu gió cấp 5 cấp 6,. Nhận được tin báo, ngay lập tức bằng những phương pháp nghiệp vụ, khai thác viên xác minh tính chính xác của thông tin và hướng dẫn cho tàu giữ liên lạc với Đài trên tần số 7903Khz, đồng thời báo cáo về Trung tâm Vùng II xin ý kiến chỉ đạo, chuyển thông tin cho Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Phú Yên, bộ đội Biên phòng tỉnh Phú Yên để phối hợp. Ngay sau đó, thông báo khẩn cấp được phát đi bằng phương thức thoại trên 2 tần số là 7903kHz và 8291kHz để tàu thuyền hoạt động trong khu vực lân cận đến trợ giúp. Bằng sự nỗ lực tiếp nhận và xử lý thông tin kịp thời của hệ thống Đài TTDH Việt Nam, cuối cùng tàu cá PY 96265 TS được một tàu bạn lai dắt vào bờ an toàn. 
      Chỉ riêng trong quý I năm 2012, Đài TTDH Phú Yên đã tiếp nhận và phối hợp xử lý 9 vụ tàu cá bị nạn trên biển. Đó chỉ là ví dụ và con số thống kê nhỏ của một Đài trong hệ thống Đài TTDH Việt Nam trải dài từ Móng Cái đến Kiên Giang. Để đảm bảo thông tin trên biển và trên đất liền thông suốt, hệ thống Đài luôn trực canh 24/24 giờ. Ngoài việc tiếp nhận và xử lý thông tin về các sự cố, tai nạn của các phương tiện hoạt động trên biển, hệ thống còn thường xuyên phát quảng bá thông tin dự báo thời tiết, tin khí tượng và các thông tin an toàn hàng hải. Các thông tin tìm kiếm cứu nạn được trực canh trên tần số 7903 kHz; thông tin về dự báo thời tiết, khí tượng và an toàn được phát đi trên tần số 7906 kHz và 8294 kHz với tần suất liên tục, kịp thời cung cấp thông tin cho người đi biển. Không những thế, trên tần số 8294 kHz còn có chương trình Thông tin duyên hải được phát vào 07h05 hàng ngày, cung cấp những tin tức về hoạt động tìm kiếm cứu nạn, dự báo ngư trường, các chương trình hỗ trợ của Nhà nước dành cho ngư dân, kiến thức an toàn giao thông trên biển, quy định pháp luật v.v… Gần đây nhất, chương tình quà tặng âm nhạc “Kết nối lời yêu thương” trên tần số 8294 kHZ lúc 12h15 và 19h15 hàng ngày dành cho người đi biển và người thân quen trên đất liền có thể gửi tặng nhau những tâm tình, bài hát yêu thích. Chương trình tuy mới mẻ nhưng đã mang lại những sắc màu, cảm xúc mới giữa những thông tin trên biển tưởng chừng như khô khan, khắc nghiệt của tìm kiếm cứu nạn, bão gió, thời tiết nguy hiểm…Hệ thống Đài TTDH cũng là nơi kết nối biển khơi và đất liền qua những cuộc ghép thoại tàu - bờ liên tục mỗi ngày. Đó là dịch vụ mang lại nhiều thuận lợi, tiện ích giữa người đi biển với người thân cho dù ngư dân đang khai thác tại những ngư trường xa bờ bao nhiêu đi nữa thì vẫn có thể liên lạc được với người cần gặp trên đất liền. Qua hệ thống Đài TTDH, biển cả trở nên gần với đất liền hơn bao giờ hết. 
      Mỗi Đài TTDH luôn là một mắt xích trong hệ thống Đài TTDH Việt Nam. Trong hệ thống, mọi hoạt động của Đài này luôn gắn kết chặt với Đài kia, nhờ đó, mọi thông tin luôn được tiếp nhận nhanh chóng, kịp thời, không bị bỏ sót. Bên cạnh đó, việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tại các địa phương ven biển trong công tác phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn đã giúp chuyển nhận thông tin kịp thời, hỗ trợ tốt cho công tác tìm kiếm cứu nạn, hạn chế thiệt hại về người và tài sản cho bà con ngư dân. 
      Với hoạt động hiệu quả và những đóng góp tích cực, hệ thống Đài THDH Việt Nam ngày càng nhận được sự tin tưởng của bà con ngư dân. Với bà con ngư dân, hệ thống Đài như "người bạn đường tin cậy” trên biển".
      Lê Văn Ri - Đài TTDH Phú Yên
Trang 1 / 11